175 câu trắc nghiệm Sinh học 12 Kết nối tri thức Bài 21 (Đúng sai - Trả lời ngắn) có đáp án - Phần 4

Cự đà biển (Amblyrhynchus cristatus) ở quần đảo Galapagos có hai kiểu hình: ưa bãi biển (kiểu hình trội) và ưa bãi đá (kiểu hình lặn)

6/30

Cự đà biển (Amblyrhynchus cristatus) ở quần đảo Galapagos có hai kiểu hình: ưa bãi biển (kiểu hình trội) và ưa bãi đá (kiểu hình lặn). Tần số xuất hiện của cự đà ưa bãi biển trên đảo M là 0,81. Trên đảo N lân cận có một quần thể cự đà có số lượng cá thể bằng số lượng của quần thể trên đảo M, tần số xuất hiện của cự đà ưa bãi biển của quần thể này là 0,64. Cho rằng hai quần thể cự đà trên hai đảo đang ở trạng thái cân bằng di truyền Hardy – Weinberg, tính trạng do một gene có hai allele trên NST thường quy định. Người ta xây dựng một cây cầu nối giữa hai hòn đảo giúp cự đà có thể di chuyển tự do. Nhận định nào sau đây là đúng hay sai?

Cự đà biển (Amblyrhynchus cristatus) ở quần đảo Galapagos có hai kiểu hình: ưa bãi biển (kiểu hình trội) và ưa bãi đá (kiểu hình lặn) (ảnh 1)

a

Hoạt động xây dựng trên của con người dẫn đến dòng gene giữa hai quần thể cự đà.

ĐúngSai
b

Khi dòng gene trung hoà hoàn toàn sự khác biệt về di truyền giữa 2 quần thể, tần số allele quy định kiểu hình ưa bãi đá của 2 quần thể có thể bằng nhau.

ĐúngSai
c

Tần số allele quy định kiểu hình ưa bãi biển của quần thể ở trên đảo M tăng lên nếu giữa các nhóm kiểu hình của hai đảo giao phối ngẫu nhiên với nhau.

ĐúngSai
d

Nếu dòng gene từ quần thể đảo N sang đảo M, giữa các nhóm kiểu hình của 2 quần thể cự đà giao phối ngẫu nhiên, tỉ lệ cự đà ưa bãi đá của thế hệ tiếp theo ở đảo M sẽ tăng.

ĐúngSai
Giải thích

Hướng dẫn giải

a. Đúng. Vì xây dựng cây cầu nối giữa hai hòn đảo giúp cự đà có thể di chuyển tự do → Dẫn đến sự trao đổi cá thể hoặc giao tử giữa hai quần thể cho nhau.

b. Đúng. Tần số allele quy định kiểu hình ưa bãi đá của 2 quần thể sau khi trung hoà hoàn toàn có thể bằng nhau nhưng không có nghĩa là giống nhau 100%.

c. Sai.

+ Trên đảo M cự đà ưa bãi biển có tần số kiển gene AA + Aa = 0,81 → Cự đà ưu bãi đá là aa= 0,19.

+ Trên đảo N cự đà ưa bãi biển có tần số kiển gene AA + Aa = 0,64 → Cự đà ưu bãi đá là aa= 0,36.

Như vậy sau khi các nhóm kiểu hình của hai đảo giao phối ngẫu nhiên với nhau thì tần số allele quy định kiểu hình ưa bãi biển của quần thể ở trên đảo M sẽ giảm xuống.

d. Đúng. Ta thấy ban đầu ở đảo N cự đà ưu bãi đá có tần số kiểu gene aa= 0,36 > 0,19 → Sau khi dòng gene từ quần thể đảo N sang đảo M thì tỉ lệ cự đà ưa bãi đá của thế hệ tiếp theo ở đảo M sẽ tăng lên.