Đề tham khảo Đánh giá tư duy Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2026 có đáp án (Đề 16)

Chọn các nhận định đúng trong các nhận định dưới đây:

41/100

(TH) Chọn các nhận định đúng trong các nhận định dưới đây:

Chọn tất cả các đáp án đúng (MSQ)

Đuôi hydrocarbon của xà phòng có tính phân cực và ưa nước.

Đầu ưa nước của xà phòng tương tác mạnh với các phân tử nước thông qua liên kết hydrogen hoặc tương tác ion-lưỡng cực.

Trong quá trình làm sạch, các đuôi kỵ nước hướng vào bên trong để bao lấy vết dầu mỡ.

Xà phòng có thể tẩy rửa hiệu quả trong mọi điều kiện nước.

Việc khuấy hoặc vò quần áo (tác động cơ học) hỗ trợ các micelle xà phòng kéo vết bẩn ra khỏi bề mặt vải.

Giải thích

Đáp án: B, C, E

Phương pháp giải:

Dựa vào đoạn thông tin đầu tiên giới thiệu về cơ chế giặt rửa của xà phòng: Khả năng tẩy rửa của xà phòng bắt nguồn từ cấu trúc đặc biệt của phân tử muối acid béo. Mỗi phân tử xà phòng (ví dụ: sodium stearate) gồm hai phần:

- Đầu ưa nước (hydrophilic head): Là nhóm carboxylate (−COO) có tính phân cực cao, dễ dàng tương tác với các phân tử nước,.

- Đuôi kỵ nước (hydrophobic tail): Là mạch hydrocarbon dài, không phân cực, có xu hướng tránh xa nước nhưng lại dễ hòa tan trong dầu mỡ và các vết bẩn hữu cơ.

Khi giặt rửa, các đuôi kỵ nước sẽ bám vào vết bẩn, bao quanh chúng để tạo thành các hạt nhỏ gọi là micelle. Các đầu ưa nước hướng ra ngoài môi trường nước, giúp kéo vết bẩn rời khỏi bề mặt vật liệu và lơ lửng trong dung dịch.

Giải chi tiết:

Các phát biểu đúng là: B, C, E.

- Phát biểu (A SAI vì đuôi hydrocarbon của xà phòng không có tính phân cực và kị nước.

- Phát biểu (D) SAI vì xà phòng mất tác dụng tẩy rửa trong môi trường nước cứng (có nhiều ion Ca2+ và Mg2+).