Cho tam gíac ABC vuông tại A (AB < AC) và đường cao AH. Từ H kẻ HE

a) Chứng minh tứ giác AEHF là hình chữ nhật.
ΔABC vuông tại A ⇒BAC^=90∘
Vì HE⊥AB, HF⊥AC nên HEA^=90∘, HFA^=90∘.
Xét tứ giác AEHF ta có:
EAF^=HEA^=HFA^=90∘
Suy ra, tứ giác AEHF là hình chữ nhật (dấu hiệu nhận biết).
b) Gọi D là điểm đối xứng của A qua F. Chứng minh DHEF là hình bình hành.
Vì AEHF là hình chữ nhật suy ra EH // AF và EH = AF (tính chất của hình chữ nhật)
Vì D là tâm đối xứng của A qua F nên F là trung điểm của AD. Suy ra, AF = FD.
Do đó, EH // FD và EH = FD.
Suy ra, DHEF là hình bình hành (dấu hiệu nhận biết)
c) Gọi I là giao điểm của EF và AH; M là trung điểm của BC. Qua A kẻ tia Ax vuông góc với đường thẳng MI cắt tia CB tại K. Chứng minh 4 điểm K, E, I, F thẳng hàng.
+) Vì I là giao điểm của EF và AH nên ba điểm E, I, F thẳng hàng.
+) Gọi O là giao điểm của EF và AM.
Vì AM là đường trung tuyến của ΔABC nên AM = MC suy ra ΔAMC cân tại M. Do đó, MAC^=MCA^.
Vì EHFA là hình chữ nhật, có I là giao điểm hai đường chéo nên ta có IAF^=IFA^.
Xét ΔAHC ta có: HAC^+HCA^=90∘ hay IAF^+MCA^=90∘
⇒IFA^+MAC^=90∘ hay OFA^+OAF^=90∘
Xét ΔOAF có OFA^+OAF^=90∘ suy ra AOF^=90∘
=> EF vuông góc với AM tại O hay IF vuông góc với AM tại O.
+) Xét ΔKAM ta có:
GM⊥KA tại G
AH⊥KM tại H
Mà I là giao điểm của AH và GM nên I là trực tâm của ΔKAM.
⇒KI⊥AM mà IF⊥AM
=> K, I, F thẳng hàng.
Ta có:
Ba điểm E, I, F thẳng hàng.
Ba điểm K, I, F thẳng hàng.
=> Bốn điểm I, K, E, F thẳng hàng.