Chó săn mồi gốc Canada Labrador Retrievers có tính trạng màu lông do 2 cặp gene (Aa, Bb) nằm trên 2 cặp NST thường quy định;
a - Đúng
Quy ước: A_B_: lông đen; A_bb: lông vàng; aaB_ + aabb: lông nâu
(P) A_bb (lông vàng) × aaB_/aabb (lông nâu)
Để F1 thu được nhiều kiểu hình nhất thì P có kiểu gene Aabb × aaBb → F1: 1 AaBb : 1 Aabb : 1 aaBb : 1 aabb
(1 lông đen : 1 lông vàng : 2 lông nâu)
Vậy F1 có thể thu được tối đa 3 loại kiểu hình
b - Sai. Tùy vào kiểu gene của P. Ví dụ, nếu kiểu gene của P giống như trên thì F1 không thu được 100% lông nâu.
c - Đúng
Lông vàng có thể có kiểu gene : AAbb, Aabb
Lông nâu có thể có kiểu gene : aaBB, aaBb, aabb → Có tối đa 6 (2×3) trường hợp có sơ đồ lai phù hợp
d - Đúng
(P) A_bb (lông vàng) × aaB_/aabb (lông nâu)
F1 xuất hiện lông nâu (aaB_/ aabb) → cá thể lông vàng ở (P) phải cho giao tử mang a nên phải có kiểu gene dị hợp Aabb → không thuần chủng.
a – Đúng, b – Sai, c – Đúng, d – Đúng.