Cho hình tứ diện SABC. Gọi M là trung điểm AC, G và H lần lượt là trọng tâm tam giác SAB và SBC
Lời giải

a) Xét hai mặt phẳng (SAH) và (SCG):
S là điểm chung thứ nhất.
Gọi N, P lần lượt là trung điểm AB, BC. Gọi O là giao điểm của AP và CN.
Do \(AP \subset \left( {SAH} \right)\) và \(CN \subset \left( {SCG} \right)\) nên suy ra O là điểm chung thứ hai.
Suy ra giao tuyến của mặt phẳng \[\left( {SGC} \right)\]và \[\left( {SAH} \right)\]là \(SO\).
b) Xét hai mặt phẳng \[\left( {KGH} \right)\]và \[\left( {SAC} \right)\], có
K là điểm chung;
\(GH\parallel AC\)
Suy ra giao tuyến của mặt phẳng \[\left( {KGH} \right)\]và \[\left( {SAC} \right)\] là \[Kx\], với \[Kx\]song song\[AC\].
\[Kx\]cắt \[SA\]tại \[E\], \[EG\]cắt \[AB\]tại \[L\].
Xét hai mặt phẳng \[\left( {KGH} \right)\]và \[\left( {SAC} \right)\], có
L là điểm chung;
\(GH\parallel AC\)
Suy ra giao tuyến của mặt phẳng \[\left( {ABC} \right)\]và \[\left( {KGH} \right)\]là Ly, với Ly song song với \[AC\].
\[Ly\]cắt \[BM\]tại\[I\], suy ra I là giao điểm của \[BM\]và mp \[\left( {KGH} \right)\]
Từ \[N\]kẻ đường thẳng song song với \[SA\]cắt \[EL\]tại \[Q\]. Suy ra
\(NQ = \frac{1}{2}ES = \frac{1}{6}EA \Rightarrow \frac{{NQ}}{{EA}} = \frac{1}{6}\).
Xét tam giác \(BAM\) có \(LI\parallel AM\), suy ra\[\frac{{IB}}{{IM}} = \frac{{LB}}{{LA}}\]
Xét tam giác \(LAE\) có \(NQ\parallel AE\), suy ra \[\frac{{LN}}{{LA}} = \frac{{NQ}}{{EA}} = \frac{1}{6}\] nên \[\frac{{LB}}{{IA}} = \frac{2}{3} \Rightarrow \frac{{IB}}{{IM}} = \frac{2}{3}\].