Bài tập Sử dụng tính chất hình thang, hình thang cân để chứng minh các đoạn thẳng bằng nhau, các góc bằng nhau lớp 8 (có lời giải)

Cho hình thang cân ABCD có đáy AB song song với đáy CD (đáy AB nhỏ hơn đáy CD). Gọi O là giao điểm của hai đường chéo AC và BD. Để chứng minh OA = OB, một học sinh đã đưa ra 4 hướng lập luận

15/25

Cho hình thang cân ABCD có đáy AB song song với đáy CD (đáy AB nhỏ hơn đáy CD). Gọi O là giao điểm của hai đường chéo AC và BD. Để chứng minh OA = OB, một học sinh đã đưa ra 4 hướng lập luận dưới đây. Đâu là hướng lập luận đúng duy nhất?

Giao điểm hai đường chéo của một tứ giác có tính đối xứng tuyệt đối như hình thang cân sẽ tự động chia đôi mỗi đường chéo. Do đó, \(OA = \frac{1}{2}AC\) và \(OB = \frac{1}{2}BD\). Kết hợp với hai đường chéo bằng nhau (AC = BD), ta suy ra OA = OB.

Xét ∆OAD và ∆OBC, có AD = BC (tính chất hình thang cân) và cặp góc đối đỉnh \(\widehat {AOD} = \widehat {BOC}\). Vì hình thang cân có các cặp góc kề một đáy bằng nhau, ta được phép trực tiếp suy ra cặp góc nhọn còn lại là \(\widehat {OAD} = \widehat {OBC}\). Do đó, ∆OAD = ∆OBC (g.c.g), dẫn đến cạnh tương ứng OA = OB.

Vì đáy AB song song với đáy CD, ta có các cặp góc so le trong bằng nhau là \(\widehat {OAB} = \widehat {OCD}\) và \(\widehat {OBA} = \widehat {ODC}\). Nhìn hình ta có \(\widehat {OAB} = \widehat {OBA}\). Khi đó, ∆OAB cân tại O, suy ra OA = OB.

Xét ∆ADC và ∆BCD, có AD = BC, AC = BD và cạnh đáy CD là cạnh chung. Suy ra ∆ADC = ∆BCD (c.c.c), kéo theo hai góc tương ứng \(\widehat {ACD} = \widehat {BDC}\). Sự thật này chứng minh ∆OCD cân tại đỉnh O, tức là OC = OD. Kết hợp với hai đường chéo AC = BD, ta dùng phép trừ đoạn thẳng: OA = AC – OC và OB = BD – OD, từ đó có được kết quả OA = OB.

Giải thích

Đáp án đúng là: D

Cho hình thang cân ABCD có đáy AB song song với đáy CD (đáy AB nhỏ hơn đáy CD). Gọi O là giao điểm của hai đường chéo AC và BD. Để chứng minh OA = OB, một học sinh đã đưa ra 4 hướng lập luận  (ảnh 1)

⦁ Phương án A sai: Hình thang cân không có tính chất hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm.

⦁ Phương án B sai: Hình thang cân có hai góc kề một đáy bằng nhau (tức là toàn bộ góc lớn \(\widehat {DAB} = \widehat {CBA}\)). Lập luận đã tự ý gán tính chất của góc lớn này cho các góc nhỏ \(\widehat {OAD}\) và \(\widehat {OBC}\) bên trong mà không thông qua bất kỳ chứng minh nào. Đây là một lập luận có lỗi nghiêm trọng.

⦁ Phương án C sai: Bạn học sinh “nhìn hình” để ép \(\widehat {OAB} = \widehat {OBA},\) đây là lập luận vô căn cứ.

⦁ Phương án D đúng.