Cho hệ phương trình x + 2 +2/căn y - 3 = 9; 2x + 4 - 1/căn y - 3 = 8. (I) a) Điều kiện xác định của hệ phương trình (I) là y khác 9; y >=0.
a) Đúng. Điều kiện xác định của hệ phương trình (I) là \(\left\{ \begin{array}{l}y \ne 9\\y \ge 0\end{array} \right.\).
b) Đúng. Đặt \(\frac{1}{{\sqrt y - 3}} = a\). Hệ phương trình (I) trở thành:O10-2024-GV154 O10-2024-GV147 \(\left\{ \begin{array}{l}(x + 2) + 2a = 9\\2(x + 2) - a = 8\end{array} \right.\) (II).
c) Đúng. Nhân hai vế của phương trình thứ hai của hệ (II) với 2, ta được \(\left\{ \begin{array}{l}(x + 2) + 2a = 9\\4(x + 2) - 2a = 16\end{array} \right..\)
Cộng vế theo vế hai phương trình của hệ mới, ta được: \(5\left( {x + 2} \right) = 25\), suy ra \(x + 2 = 5\) nên \(x = 3.\)
Thế vào phương trình thứ nhất của hệ mới, ta có: \(\left( {3 + 2} \right) + 2a = 9\) nên \(a = 2.\)
d) Sai. Khi đó \(\frac{1}{{\sqrt y - 3}} = 2\) hay \(\sqrt y - 3 = \frac{1}{2}\) nên \(\sqrt y - 3 = \frac{1}{2}\), suy ra \(y = \frac{{49}}{4}.\)
Vậy hệ phương trình (I) có nghiệm duy nhất \(\left( {x\,;\,\,y} \right) = \left( {3\,;\,\,\frac{{49}}{4}} \right)\).