Cho hai đường thẳng d1:y = 2x + 1,d2: y = x + 1
a) Đúng. Ta có \(2 \ne 1\) nên hai đường thẳng \(\left( {{d_1}} \right),\left( {{d_2}} \right)\) cắt nhau.
b) Sai. Nhận thấy, đồ thị hàm số \(\left( {{d_1}} \right):y = 2x + 1\) là đường thẳng đi qua hai điểm \(A\left( {0;1} \right)\) và \(B\left( { - \frac{1}{2};0} \right)\).
Đồ thị hàm số \(\left( {{d_2}} \right):y = x + 1\) là đường thẳng đi qua hai điểm \(A\left( {0;1} \right)\) và \(C\left( { - 1;0} \right)\).
Do đó, hai đường thẳng \(\left( {{d_1}} \right),\left( {{d_2}} \right)\) cùng đi qua điểm \(A\left( {0;1} \right)\).
c) Sai. Gọi đường thẳng \(\left( {{d_3}} \right)\) đi qua \(E\left( { - 1;0} \right)\) và song song với \(\left( {{d_1}} \right)\) có dạng \(\left( {{d_3}} \right):y = ax + b\).
Vì \(\left( {{d_3}} \right)\parallel \left( {{d_1}} \right)\) nên \(a = 2\) do đó, ta có \(\left( {{d_3}} \right):y = 2x + b\).
Thay \(E\left( { - 1;0} \right)\) vào \(\left( {{d_3}} \right)\), ta được: \(2.\left( { - 1} \right) + b = 0\) nên \(b = 2\).
Do đó, đường thẳng \(\left( {{d_3}} \right):y = 2x + 2.\)
d) Đúng. Gọi đường thẳng \(\left( {{d_4}} \right)\) có dạng \(\left( {{d_4}} \right):y = ax + b\).
Theo đề, đường thẳng có hệ số góc bằng \(3\) nên ta có \(\left( {{d_4}} \right):y = 3x + b\).
Mà đường thẳng đi qua điểm \(A\left( {0;1} \right)\) nên ta có \(3.0 + b = 1\) suy ra \(b = 1.\)
Vậy đường thẳng \(\left( {{d_4}} \right):y = 3x + 1\).