b) d1: x= 1+ t và y= 3+ 2t và d2: x − 3y + 2 = 0;
Giải thích
b) Ta có: u1→ = (1; 2) là vectơ chỉ phương của d1 ⇒ n1→= (2; −1) là vectơ pháp tuyến của d1.
Phương trình tổng quát của d1 đi qua điểm A(1; 3) và nhận n1→= (2; −1) làm vectơ pháp tuyến là: 2(x − 1) − (y − 3) = 0 ⇔ 2x – y + 1 = 0.
Đường thẳng d2 có vectơ pháp tuyến là n1→ = (1; −3)
Ta có: 21≠−1−3 ⇒ n1→ và n2→ là hai vectơ không cùng phương.
⇒ d1 và d2 cắt nhau.
Gọi M là giao điểm của d1 và d2.
Tọa độ giao điểm M của d1 và d2 là nghiệm của hệ phương trình: 2x–y+1=0x−3y+2=0.
Giải hệ 2x–y+1=0x−3y+2=0 ta được x=−15y=35⇒M−15;35.
Ta có: n1→. n2→ = 2.1 + (−1).(−3) = 5; n1→=22+(−1)2=5; n2→=12+(−3)2=10
Khi đó: cos(d1, d2) = n1→.n2→n1→.n2→=55.10= 22.
⇒ (d1, d2) = 45°.
Vậy d1 cắt d2 tại điểm M−15;35 và (d1, d2) = 45°.