Bảng dưới đây cho biết sự thay đổi tỉ lệ sinh và tỉ lệ tử vong, tỉ lệ di cư và tỉ lệ nhập cư của một quần thể động vật từ năm 1980 đến năm 2000:
a. Để vẽ được đồ thị phản ánh tỉ lệ tăng trưởng của quần thể đó, ta phải tính được tỉ lệ tăng trưởng của quần thể ở từng thập kỉ:
- Ở thập kỉ 1980 là: (2,4% + 0,8%) – (1% + 0,3%) = 1,9%
- Ở thập kỉ 1990 là: (2,0% + 0,9%) – (1,2% + 0,5%) = 1,2%
- Ở thập kỉ 2000 là: (2,3% + 1%) – (0,9% + 0,2%) = 2,2%
b. - Tháp sinh thái A, B là của hệ sinh thái dưới nước. Thời điểm tính sinh khối của tháp A là mùa đông, tháp B là mùa xuân (hoặc mùa hè).
- Tháp A: Sinh khối được tính trong thời điểm mùa đông (thời điểm các nhân tố sinh thái không thuận lợi cho sinh trưởng của sinh vật), cường độ ánh sáng yếu dẫn đến nhiệt độ môi trường nước thấp, khả năng sinh trưởng của thực vật phù du chậm nên sinh khối ít.
- Mặc dù có sinh khối thấp nhưng thực vật phù du có chu kì sống ngắn nên sản lượng vẫn đủ cung cấp cho sinh vật tiêu thụ bậc 1 do đó hình tháp có dạng đảo nghịch so với các hệ sinh thái trên cạn.
- Tháp B: Sinh khối được tính trong thời điểm mùa xuân hoặc mùa hè (thời điểm các nhân tố sinh thái thuận lợi cho sinh trưởng của sinh vật), cường độ ánh sáng tăng dẫn đến nhiệt độ môi trường nước tăng lên thuận lợi cho quá trình quang hợp nên sinh khối của thực vật phù du tăng cao hơn hẳn so với mùa đông do đó tháp sinh thái có dạng đáy rộng.
