Any pause between calls (22) ______, and interaction between colleagues was strictly forbidden.
Dịch nghĩa:
A. những lời khiển trách bằng lời nói được đáp lại
B. đã bị khiển trách bằng lời nói
C. đã gặp những lời khiển trách bằng lời nói
D. những lời khiển trách được đáp lại bằng lời nói
Any pause between calls (22) ______, and interaction between colleagues was strictly forbidden.
(Bất kỳ sự tạm dừng nào giữa các cuộc gọi (22) ______, và sự tương tác giữa các đồng nghiệp đều bị nghiêm cấm.)
→ Chủ ngữ là Any pause (vật) nên động từ phải ở dạng bị động. Cả đoạn văn đang kể lại sự việc trong quá khứ nên động từ phải chia ở thì Quá khứ đơn. Loại C, D vì các câu này sai thì và sai cấu trúc bị động. Loại A vì ở đây chỉ cần động từ chứ không cần chủ ngữ
→ Any pause between callswas met with verbal reprimands, and interaction between colleagues was strictly forbidden.
(Bất kỳ sự tạm dừng nào giữa các cuộc gọi đều bị khiển trách bằng lời nói, và sự tương tác giữa các đồng nghiệp đều bị nghiêm cấm.)
Chọn B.
Bài hoàn chỉnh | Dịch bài đọc |
Although I left university with a solid academic record, the transition into the professional world proved far more challenging than I had anticipated. (18) Months passed without any success, and my initial confidence was gradually replaced by anxiety about my financial future. Eventually, I realised that idealism was a luxury I could no longer afford. Faced with the prospect of serious economic hardship, (19) I accepted the first job opportunity available to me: a position as a market research telephone interviewer. What I assumed would be a temporary solution soon became a prolonged and emotionally demanding experience. The company's expectations became clear even before my first official day of work. I was required to complete three full days of training without receiving any payment, a condition I found questionable but reluctantly accepted. I justified this decision by focusing on the relatively high hourly wage and (20) the possibility of working extended hours. Nevertheless, the training itself offered little meaningful preparation. In retrospect, it served less as professional development and more as an introduction to a culture (21) in which employees were expected to tolerate unreasonable treatment without complaint. The working environment was highly restrictive and closely monitored. Approximately twenty interviewers were confined to narrow, poorly lit booths equipped with outdated technology. Supervisors sat at the centre of the room, silently listening to calls and enforcing strict rules. Any pause between calls (22) was met with verbal reprimands, and interaction between colleagues was strictly forbidden. Even personal needs, such as visiting the toilet, required formal permission. As a result, time seemed to slow down dramatically, particularly during the long hours before scheduled breaks, creating a constant sense of fatigue and frustration. | Mặc dù tôi rời trường đại học với thành tích học tập vững chắc, nhưng quá trình chuyển tiếp vào thế giới nghề nghiệp tỏ ra khó khăn hơn nhiều so với tôi dự đoán. (18) Nhiều tháng trôi qua mà không có bất kỳ thành công nào, và sự tự tin ban đầu của tôi dần được thay thế bằng sự lo lắng về tương lai tài chính. Cuối cùng, tôi nhận ra rằng sự lý tưởng hóa là một thứ xa xỉ mà tôi không còn khả năng chi trả nữa. Đối mặt với viễn cảnh khó khăn kinh tế trầm trọng, (19) tôi đã chấp nhận cơ hội việc làm đầu tiên có sẵn cho mình: một vị trí nhân viên phỏng vấn thị trường qua điện thoại. Những gì tôi cho rằng sẽ là một giải pháp tạm thời đã sớm trở thành một trải nghiệm kéo dài và đòi hỏi khắt khe về mặt cảm xúc. Những kỳ vọng của công ty trở nên rõ ràng ngay cả trước ngày làm việc chính thức đầu tiên của tôi. Tôi được yêu cầu hoàn thành trọn vẹn ba ngày đào tạo mà không nhận được bất kỳ khoản thù lao nào, một điều kiện mà tôi thấy đáng ngờ nhưng vẫn miễn cưỡng chấp nhận. Tôi đã biện minh cho quyết định này bằng cách tập trung vào mức lương theo giờ tương đối cao và (20) khả năng làm thêm giờ. Tuy nhiên, bản thân khóa đào tạo đó cung cấp rất ít sự chuẩn bị có ý nghĩa. Nhìn lại, nó ít mang tính phát triển chuyên môn mà giống như một sự giới thiệu về một nền văn hóa (21) trong đó nhân viên được kỳ vọng sẽ chịu đựng sự đối xử vô lý mà không được phàn nàn. Môi trường làm việc cực kỳ gò bó và bị giám sát chặt chẽ. Khoảng hai mươi nhân viên phỏng vấn bị nhốt trong những buồng làm việc chật hẹp, thiếu sáng và được trang bị công nghệ lỗi thời. Các giám sát viên ngồi ở giữa phòng, âm thầm lắng nghe các cuộc gọi và thi hành các quy tắc nghiêm ngặt. Bất kỳ sự tạm dừng nào giữa các cuộc gọi (22) đều bị khiển trách bằng lời nói, và sự tương tác giữa các đồng nghiệp đều bị nghiêm cấm. Thậm chí các nhu cầu cá nhân, chẳng hạn như đi vệ sinh, cũng cần phải được cho phép chính thức. Hậu quả là, thời gian dường như trôi qua rất chậm, đặc biệt là trong những giờ dài đằng đẵng trước các kỳ nghỉ được lên lịch, tạo ra cảm giác mệt mỏi và thất vọng triền miên. |