All of these natural services performed by that single standing tree affect human health and survival, yet they are entirely ignored by our economy.
Đáp án đúng: G
G: "Tương tự, rễ cây bám đất..." nối tiếp đoạn nói về việc cây hấp thụ CO₂ và nhả oxy.
Dịch bài đọc:
Chúng tôi đứng trong một khu rừng nguyên sinh đang bị đe dọa chặt trắng. Ông ta là CEO của công ty được cấp phép khai thác, cho phép ông mở đường vào thung lũng và bắt đầu khai thác công nghiệp những cây cối phải mất hàng thiên niên kỷ mới hình thành. Chúng tôi tranh luận gay gắt về số phận khu rừng, đứng đối mặt cách nhau chưa đầy nửa mét.
"Anh thấy cái cây kia chứ?" ông ta hét lên, chỉ vào một cây khổng lồ có lẽ đã nhiều thế kỷ tuổi. Không đợi tôi đáp, ông tiếp: "Nó chẳng có giá trị gì cho đến khi bị đốn hạ." Tôi sững người trước câu nói đó, để ông có cơ hội nói tiếp.
"Trừ phi, dĩ nhiên, mấy kẻ ôm cây các anh chịu bỏ tiền ra cứu nó để mà thưởng thức. Anh nghĩ đám bạn anh gom đủ tiền cứu cả khu rừng à? Khai thác gỗ mới là thứ giữ cho kinh tế tỉnh này tăng trưởng và giúp những người bảo tồn như anh có quần áo mặc, xe để lái, tivi để xem."
Điều khiến tôi á khẩu là nhận ra ông ta nói đúng. Trong hệ giá trị của thứ kinh tế học mà xã hội ta đã chấp nhận, chỉ khi tiền được trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ thì giao dịch mới được xem là có giá trị kinh tế.
Nhưng lăng kính tôi nhìn khu rừng mà cái cây ấy là một phần lại khác hẳn. Cái cây đó chỉ là một phần nhỏ của một cộng đồng sinh vật hình thành qua hàng nghìn năm. Cộng đồng đó gồm những cây gỗ (mà ngành công nghiệp gọi là "gỗ thương phẩm" hay "sợi") vốn chỉ là thiểu số nhỏ bé trong vô vàn dạng sống tạo nên rừng.
Đất là một cơ thể sống gồm hàng chục nghìn loài vi sinh vật - virus, vi khuẩn, nấm, động vật nguyên sinh cùng giun tròn, giun đất, côn trùng và ve bét. Cây cỏ và muông thú phủ kín nền rừng, địa y và rêu bám trên đá và gỗ mục, cây khô đứng và thân cây đổ cung cấp dinh dưỡng và nơi trú ẩn cho vô số sinh vật.
Đây là cộng đồng mà ta nhận ra là một khu rừng, phức tạp và liên kết với nhau ngoài sức tưởng tượng, tất cả được gắn kết bởi không khí, nước và ánh sáng thấm đẫm chúng.
Cái mà các nhà lâm nghiệp gọi là "rừng tái sinh" thực ra không phải rừng mà là một đồn điền cây - một nỗ lực trồng cây như trồng cà chua hay ngô. Nhưng dĩ nhiên, một "khu rừng được quản lý" hay "trang trại sợi" như vậy không còn khả năng phục hồi, tái sinh hay tự bảo vệ của một khu rừng tự nhiên.
Do đó, các công ty cần đến nhà di truyền học để lai tạo những giống cây thương phẩm tăng trưởng nhanh, cần người trồng cây, thuốc diệt cỏ để dọn các loài "cỏ dại" (loài vô giá trị thương mại), thuốc trừ sâu, phân bón để phục hồi dinh dưỡng cho đất, và lính cứu hỏa. Những khoảnh chặt trắng lớn và việc dùng máy móc hạng nặng phơi bày hệ động thực vật trong đất ra nắng, gió và không khí. Điều này làm thay đổi khả năng giữ nước của các con suối và sông - mạch sống của rừng biến đổi tận gốc thành phần loài còn lại.
Các nhà lâm nghiệp biện minh những việc làm này là "quản lý lâm sinh hợp lý", như thể họ biết điều gì tạo nên khu rừng nguyên sinh đã bị chặt. Tất nhiên họ chẳng biết. Họ vừa thiếu bản kiểm kê đầy đủ về mọi loài cấu thành rừng, vừa thiếu một bản thiết kế giải thích tất cả các thành phần liên kết với nhau ra sao.
Toàn bộ khu rừng giống như con ngỗng đẻ trứng vàng trong ngụ ngôn thiếu nhi: chừng nào con ngỗng còn béo tốt khỏe mạnh, nó sẽ đẻ trứng vàng mãi. Trong tầm nhìn ngắn hạn của kinh tế toàn cầu, như trong câu chuyện cổ, các công ty lâm nghiệp cố vơ hết trứng cùng một lúc bằng cách giết con ngỗng.
Như tôi đã chỉ ra trong cuốn Good News for a Change, bằng cách khai thác chọn lọc ở mức bằng hoặc dưới tốc độ tăng trưởng của cây, ta có thể "thu hoạch" cây sinh lời vô thời hạn thay vì cả trăm năm mới một lần. Sự đa dạng - chìa khóa của khả năng phục hồi và tái sinh cũng không bị hy sinh khi cây được lấy đi có chọn lọc.
Trở lại lời CEO rằng cái cây chỉ có giá trị khi bước vào nền kinh tế của chúng ta bằng cách tạo ra doanh thu, hãy xét xem cái cây làm gì trước khi con người định giá nó. Hàng trăm năm tuổi, cây ấy đã hấp thụ khí carbon dioxide (một khí nhà kính) từ không khí, qua đó góp phần vào cỗ máy khí hậu của sự sống, và nhả ra oxy như sản phẩm phụ của quang hợp — một sản phẩm phụ không tệ chút nào với những loài động vật như chúng ta vốn hoàn toàn phụ thuộc vào oxy để sống.
Tương tự, rễ cây bám chặt đất ngay cả dưới những trận mưa dữ dội nhất, nhờ đó ngăn xói mòn trong khi hút lượng nước khổng lồ lên tán lá, nơi nước được giải phóng qua thoát hơi, từ đó điều hòa thời tiết. Từ rễ đến ngọn cành, cây là nơi cư trú cho vô số dạng sống, từ địa y, nấm đến côn trùng, chim và thú.
Tất cả những dịch vụ tự nhiên do một cái cây đang đứng đó thực hiện đều ảnh hưởng đến sức khỏe và sự sống còn của con người, vậy mà nền kinh tế của chúng ta hoàn toàn phớt lờ chúng. Đã quá muộn để ta bắt đầu nâng tầm nhìn và giá trị của mình vượt ra khỏi lăng kính cực kỳ hạn hẹp của kinh tế học thông thường.