a) Năm 1952, David Keilin tiến hành thí nghiệm quan sát các băng hấp thụ ánh sáng của các cytochrome a3, b, c của ti thể. Theo đó, sự hấp thụ ánh sáng tạo nên các băng màu tối trên dải quang
3 | a | a1) - Khi không có O2 làm chất nhận e cuối cùng, các cytochrome tồn tại ở trạng thái mang e, tức trạng thái khử. Lúc này, theo hình A, các cytochrome hấp thụ ánh sáng - Khi có O2 làm chất nhận e cuối cùng, các cytochrome tồn tại ở trạng thái mất e, tức trạng thái oxi hóa. Lúc này, theo hình B, các cytochrome không hấp thụ ánh sáng. a2) - Khi có O2 và Urethane, chỉ cytochrome b ở trạng thái khử, chứng tỏ Urethane chặn sự truyền e từ cytochrome b đến các cytochrome còn lại, và cytochrome b là thành phần đầu tiên của chuỗi. - Khi chỉ có cytochrome c và O2, cytochrome c ở trạng thái khử, chứng tỏ không có sự truyền e từ cytochrome c cho O2. Như vậy, cytochrome c không phải là cytochrome cuối cùng. Vậy, sắp xếp được thứ tự các cytrochrome như sau: b – c – a3. | 0,5
0,5 |
b | b1) Mức độ tiêu thụ O2 sẽ tăng lên vì H+ thẩm thấu qua màng trong ty thể làm giảm chênh lệc ion H+ do đó sự tổng hợp ATP giảm. Khi đó tăng cường hoạt động của chuỗi truyền electron và tăng quá trình ôxi hóa các chất để tạo NADH và FADH2. b2) Sử dụng thuốc quá liều làm cho H+ thẩm thấu qua màng nhiều dẫn đến vừa thiếu ATP vừa sinh nhiệt nhiều dẫn đến tử vong. | 0,5 |
