a. Một gene có trình tự nucleotide trên một mạch như sau:
a.
Gene đã cho có 7 cặp nucleotide loại A -T, 5 cặp nucleotide loại G - C. Vậy số liên kết hydrogen của gene là 7 × 2 + 5 × 3 = 29.
b.
- Xác định số liên kết hydrogen của gene trước đột biến:
+ Số nucleotide của gene trước đột biến = 5 100 : 3,4 × 2 = 3 000.
+ Gene trước đột biến có G = 600 → A = 3 000 : 2 – 600 = 900.
→ Số liên kết hydrogen của gene trước đột biến là: 2A + 3G = 2 × 900 + 3 × 600 = 3 600.
- Xác định dạng đột biến: Sau đột biến, số liên kết hydrogen của gene là 3 601, tăng lên 1 so với gene ban đầu và đột biến này chỉ liên quan đến 1 cặp nucleotide nên đây là dạng đột biến thay thế một cặp A - T bằng một cặp G - C.
c.
- Người đàn ông nhóm máu A có kiểu gene IAIA hoặc IAIO, người vợ có nhóm máu B có kiểu gene IBIB hoặc IBIO, người con của họ có nhóm máu O có kiểu gene IOIO. Vậy người con phải lấy một giao tử IO từ bố và một giao tử IO từ mẹ. Do đó, bố có kiểu gene IAIO, mẹ có kiểu gene IBIO.
- Ta có sơ đồ lai:
P: Bố nhóm máu A (IAIO) × Vợ nhóm máu B (IBIO)
GP: 1IA : 1IO 1IB : 1IO
F1: 1IAIO : 1IBIO : 1IAIB : 1IOIO
(25% nhóm máu A : 25% nhóm máu B : 25% nhóm máu AB : 25% nhóm máu O)
Vậy xác suất để người con thứ 2 của họ có nhóm máu O là 25%.
d.
Tách riêng từng tính trạng ở F1, ta có tỉ lệ: 3 hạt vàng : 1 hạt xanh → kiểu gene của P là Aa × Aa; 1 vỏ trơn : 1 vỏ nhăn → kiểu gene của P là Bb × bb.
Tổ hợp lại ta có kiểu gene của P là: AaBb × Aabb.