Xác suất cặp vợ chồng này sinh ra con trai có kiểu gen dị hợp là bao nhiêu?
Đáp án A
Qua thông tin đề bài ta vẽ được sơ đồ phả hệ:

(1) Và (2) bình thường nhưng sinh ra (5) là con gái bị bệnh. Nên bệnh H do gene trội nằm trên NST thường quy định.
Quy ước: A - Bình thường; a - Bị bệnh H.
Quần thể có: A- = 0,64 => aa = 0,36 => a = 0,6; A = 0,4.
Cấu trúc di truyền của quần thể ở trạng thái cân bằng là:
0,16 AA + 0,48 Aa + 0,36 aa = 1.
Mà người (3) và (4) đều là những người bình thường, nên người (3) và (4) thuộc:
0,25AA : 0,75 Aa = 1 => Tần số allele: A = 0,625; a = 0,375.
=> Người (8) thuộc: \(\frac{5}{{11}}\)AA + \(\frac{6}{{11}}\)Aa.
Người (7) có: \(\frac{1}{3}\) AA + \(\frac{2}{3}\) Aa. Khi giảm phân tạo giao tử: \(\frac{1}{3}\)A: \(\frac{2}{3}\)a
Người (8) thuộc: \(\frac{5}{{11}}\)AA + \(\frac{6}{{11}}\)Aa. => giao tử: \(\frac{8}{{11}}\)A: \(\frac{3}{{11}}\)a
Người số không bị bệnh nên có kiểu gen AA hoặc Aa. Tỉ lệ người số (10) có kiểu gene dị hợp = \(\frac{{Aa}}{{AA + Aa}}\) = \(\frac{{\frac{8}{{11}} \times \frac{1}{3} + \frac{3}{{11}} \times \frac{2}{3}}}{{1 - - \frac{3}{{11}} \times \frac{1}{3}}} = \frac{7}{{15}}\).
Xác suất sinh con trai và có kiểu gen dị hợp của cặp vợ chồng là: \(\frac{7}{{15}} \times \frac{1}{2} = \frac{7}{{30}}\)