(Ngữ liệu ngoài sgk) Gánh mùa thu vào phố

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật trong đoạn trích Gánh mùa thu vào phố của Sương Nguyệt Minh.

9/9

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật trong đoạn trích Gánh mùa thu vào phố của Sương Nguyệt Minh.

0/3000 ký tự
Giải thích

Gợi ý:

- Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.

- Xác định đúng vấn đề nghị luận: những nét đặc sắc về nghệ thuật trong đoạn trích Gánh mùa thu vào phố của Sương Nguyệt Minh.

- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:

* Mở bài:

Giới thiệu tác giả, tác phẩm; khẳng định giá trị nghệ thuật đặc sắc.

* Thân bài:

1. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, chất thơ: sử dụng nhiều từ ngữ gợi tả (nắng vàng mơ, lá rơi khẽ khàng...), hình ảnh liên tưởng đến cổ tích.

2. Biện pháp tu từ phong phú: nhân hóa, liệt kê, ẩn dụ, câu hỏi tu từ tạo cảm giác gần gũi, sinh động.

3. Kết hợp hiện thực và lãng mạn: cảnh phố Hà Nội được khắc họa chân thực nhưng mang nét bay bổng, trữ tình.

4. Sự đan xen hồi ức và hiện tại: liên văn bản với thơ Hữu Thỉnh, Chế Lan Viên; từ thực tại gợi mở dòng hồi ức cá nhân.

5. Cái tôi trữ tình, giàu cảm xúc: xuất hiện trực tiếp trong cảm xúc ngỡ ngàng, nhớ thương, tạo chất ký đậm đà bản sắc.

* Kết bài:

- Khẳng định sức hấp dẫn của đoạn ký, giá trị nghệ thuật độc đáo, đóng góp cho văn học hiện đại.

Bài văn tham khảo

Gánh mùa thu vào phố của Sương Nguyệt Minh là một bút ký đặc sắc về Hà Nội, nơi mùa thu không chỉ hiện lên trong thiên nhiên, cảnh vật mà còn trong dòng xúc cảm sâu xa của con người. Đoạn trích đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả trước hết nhờ nghệ thuật độc đáo mà tác giả đã vận dụng.

Trước hết, ngôn ngữ trong tác phẩm giàu hình ảnh và đậm chất thơ. Chỉ bằng vài nét phác thảo, nhà văn đã tái hiện một bức tranh thu Hà Nội gợi cảm: “nắng mới xôn xao một màu vàng mơ trải trên tán cây xanh”, “lá khẽ khàng đáp nhẹ lên bờ vai thiếu nữ”. Những hình ảnh ấy gợi liên tưởng đến miền cổ tích, đưa người đọc vào không gian mơ màng, đầy lãng mạn. Cái tài của tác giả là không chỉ miêu tả thiên nhiên, mà còn truyền vào đó nhịp đập của tâm hồn.

Bên cạnh đó, biện pháp tu từ được sử dụng phong phú và tinh tế. Nhân hóa khiến lá vàng trở nên duyên dáng, gần gũi. Liệt kê trong việc tả các loài hoa khiến bức tranh mùa thu thêm đa dạng, phong phú. Câu hỏi tu từ “Em gánh mùa thu từ đâu đến?” thể hiện sự ngỡ ngàng, thán phục trước vẻ đẹp bình dị mà rực rỡ của gánh hoa thôn nữ. Các biện pháp ấy không chỉ tăng tính biểu cảm mà còn làm cho trang ký trở nên lung linh, giàu nhạc điệu.

Đặc sắc nữa là sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn. Hiện thực đời sống hiện diện qua những địa danh, cảnh vật cụ thể: phố Phan Đình Phùng, cầu Long Biên, hồ Trúc Bạch, hồ Tây… Song trên cái nền hiện thực ấy lại là cái nhìn bay bổng, giàu mơ mộng. Thiên nhiên Hà Nội không đơn thuần là cảnh quan, mà còn là biểu tượng của ký ức, tình yêu, nỗi nhớ. Chính sự đan xen ấy làm nên chiều sâu cho tác phẩm.

Đoạn trích còn hấp dẫn bởi sự hòa quyện giữa hồi ức và hiện tại. Tác giả đã vận dụng liên văn bản khi gợi nhớ đến thơ Hữu Thỉnh, Chế Lan Viên, để rồi từ đó khẳng định: mùa thu không chết, mà đang hiện diện trong từng gánh hoa, từng vòm lá Hà Nội. Sự xen kẽ giữa cái nhìn của hiện tại và hồi ức quá khứ khiến trang ký vừa cụ thể, vừa thấm đẫm tâm trạng.

Cuối cùng, dấu ấn đậm nét nhất chính là cái tôi trữ tình, giàu cảm xúc của người viết. Đằng sau thiên nhiên Hà Nội là nỗi niềm riêng: “em thì không còn ngồi sau xe đạp nữa”. Chi tiết ấy khiến đoạn ký trở nên lắng đọng, chan chứa tình yêu và hoài niệm, đúng bản chất “ký trữ tình”.

Tóm lại, đoạn trích Gánh mùa thu vào phố không chỉ ghi lại hiện thực mùa thu Hà Nội, mà còn đưa người đọc vào không gian giàu thi vị và cảm xúc. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nghệ thuật tu từ tinh tế, sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn cùng cái tôi trữ tình đã làm nên sức sống đặc biệt cho tác phẩm. Đây là một bút ký thành công, góp phần làm phong phú thêm diện mạo văn học Việt Nam đương đại.