(Ngữ liệu ngoài sgk) Thi thành hoàng

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá kết thúc truyện “Thi Thành Hoàng” ở phần Đọc hiểu với kết thúc truyện “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” – Nguyễn Dữ, Sách giáo kh

10/11

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá kết thúc truyện “Thi Thành Hoàng” ở phần Đọc hiểu với kết thúc truyện “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” – Nguyễn Dữ, Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1, trang 19, NXB Đại học Huế, năm 2024)

Tử Văn vui vẻ nhận lời, bèn thu xếp việc nhà, rồi không bệnh mà mất.

Năm Giáp Ngọ, có người thành Đông Quan, vốn quen biết với Tử Văn, một buổi sớm đi ra ngoài cửa Tây vài dặm, trông thấy trong sương mù có xe ngựa đi đến ầm ầm, lại nghe tiếng quát:

- Người đi đường tránh xa, xe quan phán sự!

Người ấy ngẩng đầu trông thì thấy người ngồi trên xe chính là Tử Văn. Song Tử Văn chỉ chắp tay thi lễ chứ không nói một lời nào, rồi thoắt đã cưỡi gió mà biến mất.

0/3000 ký tự
Giải thích

Gợi ý:

- Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức đoạn văn (diễn dịch, quy nạp, móc xích…).

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 200 chữ.

- Xác định đúng vấn đề nghị luận

+ So sánh, đánh giá kết thúc truyện “Thi Thành Hoàng” ở phần Đọc hiểu với kết thúc truyện “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” – Nguyễn Dữ.

- Hệ thống ý:

+ Điểm giống: Cả hai truyện đều kết thúc có hậu bằng một chi tiết kì ảo: Nhân vật chính vì là người tài đức nên sau khi mất đi, sang thế giới bên kia làm quan; người nhà/ người quen sau đó thoáng nhìn thấy nhân vật hiện về có kẻ hầu, người hạ, ngựa mũ, áo mão đầy đủ.

+ Điểm khác:

++ Truyện “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”, nhân vật khi còn sống là người ngay thẳng không sợ gian tà, dám chống lại cái xấu, cái ác, bảo vệ cái thiện nên chết đi và được làm quan Phán sự (Chức quan xem xét về các vụ kiện tụng, giúp việc cho người xử án, chức quan thực hiện công lí).

++ Truyện “Thi Thành Hoàng”, nhân vật chết đi thành thần, được giữ chức Thành Hoàng ở Hà Nam theo hẹn định, là vị chủ thần trông coi, quản lí vùng Hà Nam.

+ Ý nghĩa: Tuy có nét khác nhau nhưng về cơ bản kết thúc của hai truyện có nhiều điểm tương đồng rõ nét. Nét tương đồng trong kết thúc truyện này đã thể hiện được điểm tương đồng trong quan điểm, tư tưởng của Nguyễn Dữ và Bồ Tùng Linh. Cả hai nhà văn đều tin rằng cái đẹp, cái thiện sẽ chiến thắng cái xấu, cái ác, người có tài, có tâm ắt sẽ được trọng dụng, báo đáp,...Kết thúc này cũng thể hiện rõ mối quan hệ mật thiết và sự ảnh hưởng qua lại của tư tưởng, văn hoá, văn học giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng như các nước khác trong khu vực, khẳng định quy luật bảo lưu và tiếp biến của văn học.

- Phát triển đoạn văn logic, thuyết phục

+ Dẫn chứng từ văn bản để minh chứng cho nhận định.

+ So sánh điểm tương đồng và khác biệt trong kết thúc truyện được thể hiện trong văn bản đọc hiểu và truyện “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” – Nguyễn Dữ.

- Đảm bảo ngữ pháp, liên kết:

+ Trình bày rõ ràng, mạch lạc, không mắc lỗi chính tả.

- Sáng tạo

+ Cách diễn đạt mới mẻ, có suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Đoạn văn tham khảo

Kết thúc của truyện Thi Thành Hoàng (Bồ Tùng Linh) và Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ) có nhiều nét tương đồng, song cũng mang những điểm khác biệt riêng. Giống nhau, cả hai đều sử dụng chi tiết kì ảo để tạo nên cái kết có hậu: nhân vật chính sau khi qua đời đều được trao trọng trách ở thế giới thần linh. Sự trở lại thoáng chốc trong hình ảnh uy nghiêm, với ngựa xe, áo mũ, kẻ hầu, người hạ đã khẳng định giá trị của con người tài đức. Tuy nhiên, sự khác biệt thể hiện ở cách xây dựng nhân vật. Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Ngô Tử Văn hiện lên là bậc chính trực, cương nghị, dám đối đầu với cái ác, nên khi chết đi được phong làm quan Phán sự, thay mặt xử lí công minh. Ngược lại, nhân vật Tống Công trong Thi Thành Hoàng được đề cao ở tấm lòng hiếu thảo, sự học hành, nhân cách thanh liêm, nên sau này được phong làm Thành Hoàng – vị thần bảo hộ một vùng đất. Như vậy, tuy khác nhau về trọng tâm ca ngợi, nhưng cả hai tác phẩm đều gặp gỡ ở tư tưởng: người chính trực, có tài, có đức sẽ luôn được trọng dụng, được ghi nhận cả khi đã khuất. Đây cũng là minh chứng cho sự tương thông trong quan niệm đạo đức, văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc thời trung đại.