Bộ 10 đề thi giữa kì 1 Ngữ Văn 8 Kết nối tri thức cấu trúc mới có đáp án - Đề 8

Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc của em khi đọc bài thơ Quê của mẹ... của tác giả Nguyễn Khánh Châu.

6/7

II. PHẦN VIẾT

Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc của em khi đọc bài thơ Quê của mẹ... của tác giả Nguyễn Khánh Châu.

QUÊ CỦA MẸ...

Tôi cùng mẹ trở về thăm quê ngoại

Nơi tuổi thơ mẹ lặn lội cơ hàn

Nơi ngoại tôi cứ mỗi vụ đông tàn

Tay cước đỏ, nơi đồng sâu cấy lúa.

 

Ở nơi đó, những ngày mẹ còn nhỏ

Đuổi bắt ve, nắng cháy những trưa hè

Bị ngoại mắng, đòn roi mẹ chẳng sợ

Vẫn đầu trần, chân sáo chạy khắp thôn.

 

Mẹ lớn lên... rồi bôn ba xuôi ngược

Xa quê nghèo, cũng rất ít về thăm

Nhưng trong tim kí ức những tháng năm

Quê hương đó - in sâu trong tiềm thức.

(Theo Nguyễn Khánh Châu, Văn học và tuổi trẻ, số tháng 3 năm 2023, NXB Giáo dục Việt Nam, 2023, tr.45)

0/3000 ký tự
Giải thích

a. Đảm bảo thể thức, dung lượng yêu cầu của một đoạn văn nghị luận.

b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Ghi lại cảm xúc của em khi đọc bài thơ Quê của mẹ... của tác giả Nguyễn Khánh Châu.

c. Triển khai vấn đề nghị luận:

Có thể viết đoạn văn theo hướng sau:

* Mở đoạn: Giới thiệu bài thơ Quê của mẹ... (nhan đề, tên tác giả); nêu ấn tượng chung. Bài thơ ca ngợi tình yêu quê hương sâu nặng và sự thấu hiểu, trân trọng nỗi niềm người mẹ khi phải xa quê.

* Thân đoạn: Bày tỏ cảm nghĩ về bài thơ.

- Cảm nghĩ về nội dung:

+ Khổ 1: Mở đầu bài thơ là lời tự sự mộc mạc của người con khi được cùng mẹ về thăm quê ngoại. Miền quê ấy là cả tuổi thơ nhọc nhằn của mẹ Nơi tuổi thơ mẹ lặn lội cơ hàn; là nơi có người bà chịu bao lam lũ, vất vả, hi sinh Nơi ngoại tôi cứ mỗi vụ đông tàn - Tay cước đỏ, nơi đồng sâu cấy lúa. Hình ảnh thơ như ghim sâu vào tâm trí người con, người cháu xa quê là đôi bàn tay cước đỏ, sưng lên vì cóng lạnh của người bà sau mỗi vụ cấy. Những dòng thơ thấm đẫm sự thấu hiểu, yêu thương của người con, người cháu với nỗi vất vả mưu sinh của mẹ, của bà.

+ Tiếp mạch cảm xúc, quê hương còn gợi lại biết bao kỉ niệm ấu thơ của người mẹ. Đến đây, người con như hoá thân vào người mẹ để sống lại kí ức tuổi thơ với những lần đuổi bắt ve giữa trưa hè nắng cháy, dẫu bị mẹ đánh đòn vẫn đầu trần, chân sáo chạy khắp thôn.

+ Đến với khổ 3, tiếp mạch nguồn hoài niệm, người con viết về những tháng năm trưởng thành và xa quê của mẹ cũng đong đầy cảm xúc: Mẹ lớn lên... rồi bôn ba xuôi ngược - Xa quê nghèo, cũng rất ít về thăm. Trưởng thành và cuộc sống mưu sinh đã khiến mẹ phải rời xa ngoại, xa quê và rất ít về thăm. Ý thơ bùi ngùi thương cảm, còn nỗi buồn nào hơn khi con cái phải rời xa cha mẹ, xa mái ấm yêu thương. Hai câu cuối bài là lời khẳng định đinh ninh về một thứ tình cảm bất di bất dịch bất chấp mọi khoảng cách không gian, thời gian Nhưng trong tim kí ức những tháng năm/ Quê hương đó - in sâu trong tiềm thức.

- Cảm nghĩ về một số đặc sắc nghệ thuật và hiệu quả thẩm mĩ: Thể thơ tám chữ với vần nhịp linh hoạt rất phù hợp để diễn tả tâm tình của người mẹ đối với quê hương, của người con đối với mẹ và miền quê của mẹ. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị; hình ảnh thơ gần gũi, không cầu kì chau chuốt, đôi chỗ còn có phần đơn sơ, chân chất: đòn roi mẹ chẳng sợ, đầu trần, chân sáo chạy khắp thôn.... Bài thơ có sự kết hợp nhuần nhuyễn các phương thức biểu cảm, tự sự đan xen miêu tả giúp cho người đọc dễ dàng hình dung hành trình và những xúc cảm của người con khi được theo mẹ về thăm quê ngoại. Nổi bật nhất trong bài thơ là biện pháp điệp ngữ nơi... gợi về một miền quê nơi gắn liền với ấu thơ đời mẹ, nơi có ngoại yêu thương tần tảo nhọc nhằn, nơi dẫu sau này mẹ rất ít về thăm nhưng đã in sâu trong tiềm thức của mẹ.

* Kết đoạn: Khái quát lại cảm xúc, suy nghĩ về bài thơ. Quê của mẹ... là tâm sự của một người con tha thiết yêu thương mẹ, yêu miền quê của mẹ. Với chức năng luyện cho ta những tình cảm ta sẵn có, bài thơ bồi đắp cho người đọc tình yêu quê hương, tình mẫu tử thiêng liêng, sâu nặng.

d. Chính tả, ngữ pháp:

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt.

e. Sáng tạo:

Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề nghị luận.