Viết bài văn phân tích đoạn thơ được trích từ bài “Văn tế thập loại chúng sinh” của Nguyễn Du ở phần đọc hiểu.
a) Đảm bảo cấu trúc bài văn.
b) Xác định đúng vấn đề nghị luận.
* Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần đảm bảo các nội dung sau:
I. Mở bài.
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu đoạn trích và nêu nội dung đoạn trích.
II. Thân bài.
1. Khái quát.
- Giới thiệu đoạn trích.
2. Phân tích đoạn trích.
* Luận điểm 1: Phân tích chủ đề tư tưởng của đoạn thơ.
- Khổ thơ đầulà niềm cảm thương của nhà thơ đối với những người lính phải rời bỏ gia đình để tham gia chiến tranh.
+ Cụm từ “khóa lính” và “gồng gánh việc quan” cho thấy người lính bắt buộc phải tham gia vào chiến tranh. Họ vốn gắn bó với gia đình, với quê hương, ruộng đồng nhưng vẫn phải giã từ những thứ thân thuộc ấy, đó đã là nỗi khổ đau.
+ Họ còn phải chịu đựng khó khăn, cực khổ nơi chiến trận: “Nước khe cơm vắt gian nan” và “Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời”. Nguyễn Du sử dụng các từ ngữ như “nước khe”, “cơm vắt”, “dãi dầu” để miêu tả cuộc sống khó khăn, thiếu thốn, vất vả, gian nan của họ.
+ Câu thơ “Buổi chiến trận mạng người như rác” sử dụng biện pháp tu từ so sánh thể hiện sự sống con người bị coi thường. Hình ảnh thơ còn thể hiện sự tàn khốc của chiến tranh.
=> Khổ thơ đã biểu lộ nỗi đau và sự thương cảm sâu sắc của Nguyễn Du đối với số phận những người lính trong xã hội phong kiến và phê phán chiến tranh đã gây ra đau khổ cho con người.
- Khổ thơ thứ hai là niềm cảm thương của nhà thơ dành cho số phận bất hạnh của người phụ nữ.
- Câu thơ: “Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa” gợi lên hình ảnh của những phụ nữ vì cảnh ngộ đưa đẩy mà phải chấp nhận cảnh đời ô nhục.
+ Câu hỏi tu từ “Ngẩn ngơ khi trở về già, Ai chồng con tá biết là cậy ai?” bộc lộ niềm cảm thông của nhà thơ với cảnh ngộ của họ: cô đơn và tuyệt vọng khi về già, không còn ai để dựa dẫm.
+ Câu hỏi tu từ “Đau đớn thay phận đàn bà. Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?” là lời băn khoăn, trăn trở của tác giả về số kiếp người phụ nữ nói chung trong xã hội phong kiến: bị coi thường, chà đạp.
=> Nguyễn Du bày tỏ niềm đồng cảm với những khổ đau mà phụ nữ phải gánh chịu...
- Khổ thơ thứ ba là niềm cảm thương sâu sắc của Nguyễn Du hướng đến những kẻ ăn xin - người nghèo khổ, không nơi nương tựa.
+ “Cũng có kẻ nằm cầu gối đất” gợi hình ảnh người ăn xin nằm co ro trên đất khiến người đọc xót xa.
+ Những con người đó lúc sống chịu cảnh khốn khó, thiếu thốn. Đến khi ra đi cũng vô cùng khổ sở: “Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan”.
=> Đoạn thơ không chỉ là sự thể hiện nỗi đau của những kiếp người bất hạnh trong xã hội bấy giờ mà còn là tiếng nói phản kháng với bao bất công, ngang trái trong xã hội, gợi lên niềm trắc ẩn và lòng thương người của Nguyễn Du. Đoạn trích mang giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc.
* Luận điểm 2: Phân tích một số nét đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích.
- Đoạn thơ với thể thơ song thất lục bát có quy định chặt chẽ về vần và nhịp.
+ Vần lưng xen kẽ vần chân. (Học sinh dẫn thơ, chỉ ra và phân tích tác dụng)
+ Nhịp thơ có sự thay đổi linh hoạt. Cặp song thất thường ngắt nhịp lẻ trước, chẵn sau. Cặp lục bát chủ yếu ngắt nhịp chẵn. (Học sinh dẫn thơ, chỉ ra và phân tích tác dụng)
- Nguyễn Du sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, cụ thể và sinh động để khắc họa nỗi đau và số phận con người.
- Nhà thơ sử dụng kết hợp nhiều biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh, và nhất là khai thác hiệu quả câu hỏi tu từ nhằm làm nổi bật nỗi thống khổ của con người và những bất công, ngang trái trong xã hội.
3. Đánh giá, liên hệ.
- Khái quát nghệ thuật, nội dung đoạn trích.
- Liên hệ với những tác phẩm cùng viết về số phận của con người trong xã hội phong kiến như: Thơ Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều của Nguyễn Du….
III. Kết bài.
- Khẳng định giá trị đoạn trích và nêu cảm nghĩ bản thân.
c) Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
d) Sáng tạo: Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề cần nghị luận.