Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nghệ thuật và nội dung của đoạn trích Quê ngoại (Nguyễn Thị Xuân Phượng)
Gợi ý:
- Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng
+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.
+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: nghệ thuật và nội dung của đoạn trích Quê ngoại
- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
* Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, thể loại hồi kí.
- Nêu khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.
- Nêu vấn đề: đặc điểm nghệ thuật hồi kí trong văn bản.
* Thân bài:
1. Giá trị nội dung:
- Tái hiện chân thực cảnh quê sau chiến tranh: rặng tre, cầu gỗ, ngôi nhà cổ kính… → không gian bình yên, quen thuộc.
- Khắc họa tình cảm gia đình: bà ngoại, dì Chín, dì Trợ… tình yêu thương ấm áp, xúc động.
- Tình quê sâu nặng: từ sự run rẩy khi trở về, đến hình ảnh tràng hạt bà trao → quê hương là nơi chở che, bùa hộ mệnh tinh thần.
- Tư tưởng: khẳng định sức mạnh của cội nguồn, quê hương là điểm tựa vững chắc.
2. Nghệ thuật:
- Kết hợp tự sự – miêu tả – trữ tình → vừa chân thực, vừa giàu chất thơ.
- Ngôn ngữ giản dị, giàu sức gợi cảm, giàu hình ảnh.
- Chi tiết giàu biểu tượng: “tràng hạt hổ phách” tượng trưng cho niềm tin và sự che chở.
* Kết bài:
- Khẳng định giá trị của đoạn trích: vừa là ký ức cá nhân, vừa gợi suy ngẫm chung về quê hương, tình thân.
- Để lại trong lòng người đọc dư âm bền lâu về tình cảm gia đình, quê hương.
Bài văn tham khảo
Trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, thể kí đã góp phần lưu giữ nhiều trang hồi ức chân thực và xúc động về con người, quê hương, đất nước. Quê ngoại của Nguyễn Thị Xuân Phượng là một tác phẩm tiêu biểu, không chỉ ghi lại hành trình trở về quê hương sau nhiều năm xa cách, mà còn bộc lộ tình cảm tha thiết với gia đình, với quê nhà. Đoạn trích đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cả về nội dung lẫn nghệ thuật, gợi cho người đọc những suy ngẫm bền lâu về giá trị của quê hương, nguồn cội.
Trước hết, về nội dung, đoạn trích tái hiện chân thực khung cảnh quê hương sau chiến tranh. Ngày 27/3/1975, nhân vật “tôi” trở về quê Nham Biểu: rặng tre rì rào, chiếc cầu gỗ bắc ngang sông, những ngôi nhà ngói trầm lặng, hương hoa bưởi, hoa nhãn thoang thoảng… Tất cả gợi một không gian bình yên, tưởng chừng chiến tranh chưa từng đi qua. Đây là vẻ đẹp của làng quê Việt Nam, giản dị mà thấm đượm tình, gợi niềm tự hào và sự gắn bó không thể phai nhòa trong tâm hồn mỗi người con xa xứ.
Không dừng lại ở cảnh vật, tác phẩm còn chan chứa tình cảm gia đình sâu nặng. Giây phút tác giả gặp lại bà ngoại và các dì thật cảm động: bà run run đưa tay sờ mặt cháu, dì Chín ôm chầm lấy, dì Trợ vừa nhồi bột lọc vừa lau nước mắt… Những chi tiết đời thường mà giàu sức gợi ấy khắc họa tình thân ấm áp, thiêng liêng. Tình cảm ấy trở thành nguồn động viên lớn lao, tiếp sức cho tác giả sau những năm tháng chiến tranh khốc liệt, đồng thời khẳng định vai trò bất biến của tình thân trong việc nâng đỡ tâm hồn con người.
Đặc biệt, hình ảnh chiếc tràng hạt hổ phách bà ngoại trao mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Nó không chỉ là vật kỉ niệm, mà còn là “bùa hộ mệnh” – biểu trưng cho niềm tin, sự che chở của gia đình, quê hương. Từ đây, tác phẩm khẳng định: quê hương, cội nguồn chính là điểm tựa tinh thần vững bền của con người, là hành trang quý giá giúp ta vững vàng vượt qua mọi gian nan, thử thách trong cuộc đời.
Về nghệ thuật, đoạn trích thành công nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự, miêu tả và trữ tình. Tự sự giúp kể lại hành trình trở về quê; miêu tả tái hiện không gian, cảnh vật sinh động; còn trữ tình bộc lộ cảm xúc dạt dào của tác giả. Ngôn ngữ hồi kí giản dị nhưng giàu hình ảnh, gợi cảm giác chân thực và gần gũi. Những chi tiết giàu biểu tượng như hương hoa, bậc thềm, tràng hạt càng làm tăng chiều sâu tư tưởng và cảm xúc, khiến tác phẩm vượt lên khỏi một câu chuyện cá nhân, trở thành tiếng lòng chung của bao người con xa quê.
Tóm lại, Quê ngoại là một hồi kí giàu giá trị, vừa khắc họa khung cảnh quê hương thân thuộc, vừa ngợi ca tình cảm gia đình gắn bó, bền chặt. Bằng lối viết chân thực, giàu trữ tình, Nguyễn Thị Xuân Phượng đã để lại cho người đọc một thông điệp sâu xa: quê hương, cội nguồn luôn là bến đỗ bình yên, là sức mạnh tinh thần bất diệt của mỗi con người, để mỗi khi đi xa ta lại có một nơi để trở về, một chốn để yêu thương và gửi gắm tâm hồn.