Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích đoạn trích “Một thoáng chèo quê tôi” của Vũ Hữu Sự để làm rõ vẻ đẹp của nghệ thuật chèo và tình yêu quê hương tha thiết của tác giả.
Gợi ý:
- Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng
+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.
+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: làm rõ vẻ đẹp của nghệ thuật chèo và tình yêu quê hương tha thiết của tác giả.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
* Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Vũ Hữu Sự và tác phẩm.
- Khẳng định: đoạn trích vừa ghi chép sự thật, vừa thấm đẫm tình yêu quê hương và nghệ thuật dân gian.
* Thân bài:
1. Vẻ đẹp nghệ thuật chèo qua đoạn trích:
- Chèo gắn liền với đời sống làng quê (cảnh tập chèo, người xem, diễn viên).
- Chèo phản ánh nhân tình thế thái, đề cao công lý, tình nghĩa → sức mạnh nhân văn.
- Hình ảnh các “chiếng chèo”, nghệ nhân tài hoa cho thấy sự phong phú, độc đáo.
2. Tình yêu quê hương của tác giả:
- Tình cảm trân trọng dành cho những con người bình dị (chị Thuyên, nghệ nhân dân gian).
- Sự tiếc nuối, hoài niệm khi nghệ thuật truyền thống dần mai một.
- Cái nhìn tự hào: “Chèo, đó chính là đặc trưng cho tính cách tâm hồn của người quê tôi”.
3. Nghệ thuật thể hiện:
- Đặc trưng thể ký: ghi chép sự kiện thực, kết hợp cảm xúc, hồi ức.
- Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giọng điệu trữ tình, gợi nhớ gợi thương.
* Kết bài:
-Khẳng định: Đoạn trích vừa là tư liệu văn hóa quý, vừa là bản tình ca tha thiết về quê hương và nghệ thuật chèo.
- Liên hệ: nhắc nhở thế hệ hôm nay biết trân trọng và giữ gìn di sản dân gian.
Bài văn tham khảo
Trong kho tàng ký sự viết về văn hóa dân gian, “Một thoáng chèo quê tôi” của Vũ Hữu Sự là một tác phẩm đặc sắc. Bằng những hồi ức chân thực và cảm xúc tha thiết, tác giả đã dựng lại bức tranh nghệ thuật chèo gắn bó mật thiết với đời sống người dân quê, đồng thời bộc lộ tình yêu sâu nặng với quê hương và truyền thống.
Trước hết, đoạn trích cho thấy vẻ đẹp độc đáo của nghệ thuật chèo. Chèo hiện lên không phải trong ánh đèn sân khấu lộng lẫy, mà giữa sân hợp tác xã, dưới ánh trăng hay đèn “hoa kì”. Người xem là toàn thể dân làng, diễn viên là nông dân lam lũ, vừa đun cám cho lợn vừa vội chạy ra chiếu diễn. Chính sự gắn bó ấy đã làm nên sức sống đặc biệt: chèo trở thành một phần của đời sống, của nhịp thở quê hương. Trên chiếu chèo, mọi phận đời đều được phản ánh: kẻ nghèo khổ có thể thành công, ân oán được phân minh, nghĩa tình trọn vẹn. Nghệ thuật ấy không chỉ giải trí mà còn gieo niềm tin vào công lý, cái thiện, giá trị nhân văn sâu xa. Đoạn trích còn tái hiện sự phong phú của các “chiếng chèo” Đông, Đoài, Bắc, Nam – mỗi nơi có sở trường, ngón nghề riêng, minh chứng cho sự đa dạng và sáng tạo của nghệ thuật dân gian.
Không chỉ miêu tả chèo, tác giả còn bày tỏ tình yêu quê hương tha thiết. Qua nhân vật chị Thuyên, hình ảnh người phụ nữ nghèo lam lũ mà say mê nghệ thuật, tác giả đã gửi gắm sự trân trọng với những con người bình dị. Nỗi tiếc nuối về tài danh Đào Sương Nguyệt thất lạc trong dòng đời càng gợi nỗi xót xa khi giá trị truyền thống dần bị lãng quên. Và sau tất cả, Vũ Hữu Sự khẳng định: “Chèo, đó chính là đặc trưng cho tính cách tâm hồn của người quê tôi”. Đó là lời tự hào của một người con gắn bó máu thịt với quê hương, cũng là thông điệp gửi đến thế hệ sau: hãy biết trân trọng di sản cha ông.
Đoạn trích thành công nhờ bút pháp ký đặc sắc. Tác giả vừa ghi chép sự kiện, nhân vật, vừa để cảm xúc tuôn trào. Hồi ức cá nhân hòa cùng tư liệu văn hóa tạo nên một văn bản vừa chân thực, vừa trữ tình. Giọng văn giản dị mà giàu sức gợi, làm sống dậy không khí một thời và khơi dậy trong lòng người đọc niềm thương nhớ, tự hào.
Tóm lại, “Một thoáng chèo quê tôi” không chỉ là một thiên ký sự về nghệ thuật dân gian, mà còn là bản tình ca thấm đượm tình yêu quê hương. Tác phẩm giúp ta hiểu rằng, văn hóa truyền thống chính là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc. Đọc đoạn trích, mỗi chúng ta càng thêm tự hào, đồng thời thấy rõ trách nhiệm giữ gìn, tiếp nối những giá trị quý báu ấy cho hôm nay và mai sau.