Tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay như thế nào?
Đặc điểm của Việt Nam khi bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội
Xuất phát từ hoàn cảnh thực tiễn của đất nước, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những đặc điểm riêng của Việt Nam. Từ đó, đưa ra những quan niệm về bước đi trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước vốn là thuộc địa có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề với bao tàn tích lạc hậu do chế độ thực dân phong kiến để lại. Những đặc điểm đó là:
Thứ nhất, có chính quyền dân chủ nhân dân. Sau khi giành độc lập, nền chuyên chính dân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản trên nền tảng liên minh công - nông và lao động trí óc được củng cố. Nhà nước của dân, do dân, vì dân được kiện toàn và có kinh nghiệm bước đầu điều hành đất nước thực hiện nhiệm vụ “kháng chiến, kiến quốc” thắng lợi. Những tiền đề chủ yếu cho việc quá độ lên chủ nghĩa xã hội được tạo ra. Do đó, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới - quá độ lên chủ nghĩa xã hội - không bắt đầu bằng một cuộc đảo lộn chính trị, một cuộc cách mạng chính trị với đầy đủ ý nghĩa của nó như ở nước Nga hay các nước tư bản phát triển mà lại trải qua một thời kỳ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc (1945 - 1954), xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tạo tiền đề cần và đủ để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều này thể hiện khá rõ tính sáng tạo của Hồ Chí Minh trong quá trình tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Thứ hai, đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Sau Hiệp định Giơnevơ (năm 1954), miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn nằm trong vùng kiểm soát của đối phương. Theo Hiệp định, sau hai năm, Việt Nam sẽ tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Song, do âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã ngang nhiên phá bỏ Hiệp định, từ chối hiệp thương tổng tuyển cử và thiết lập một chế độ cai trị hà khắc tại miền Nam. Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân Việt Nam đã tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Theo đánh giá của nhiều lý luận gia nước ngoài, cách làm “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, vừa chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm phát huy triệt để những ưu thế của chế độ xã hội mới phục vụ mục tiêu: giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc là một nét độc đáo của Hồ Chí Minh, phản ánh đúng thực chất và quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam: gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Hiện tượng lịch sử này chưa từng có ở bất kỳ một nước nào khác trên thế giới. Nhưng Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam đã giải quyết thành công cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng tổng kết: “Một Đảng thống nhất lãnh đạo một nước tạm thời bị chia cắt làm đôi tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau, đó là đặc điểm lớn nhất và cũng là nét độc đáo của cách mạng nước ta từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 5 năm 1975”.
Thứ ba, theo Hồ Chí Minh, đặc điểm “to nhất”, bao trùm nhất của Việt Nam khi bước vào thời kỳ quá độ, chi phối các đặc điểm khác và quyết định phương thức quá độ gián tiếp là “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Đặc điểm này đã quy định loại hình phát triển của Việt Nam lên chủ nghĩa xã hội là loại hình “phát triển rút ngắn” theo phương thức “quá độ gián tiếp” mà V.I. Lênin đã bàn tới. Với trình độ phát triển của Việt Nam, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải tiến dần dần, từng bước một, cố gắng đi nhanh cho kịp với thế giới nhưng phải đúng quy luật, không thể chủ quan duy ý chí, không thể đốt cháy giai đoạn, làm bừa, làm ẩu. Đặc điểm này thâu tóm đầy đủ những mâu thuẫn, khó khăn, phức tạp trong tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nó đặt ra hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn cần được nhận thức và giải đáp một cách đúng đắn để tìm ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội với những hình thức, bước đi và cách làm phù hợp. Đặc điểm này cũng chỉ rõ, mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ là mâu thuẫn giữa yêu cầu phải tiến lên xây dựng một chế độ xã hội mới có kinh tế công nghiệp, nông nghiệp hiện đại, có văn hóa, khoa học tiên tiến với tình trạng lạc hậu, kém phát triển, lại phải đối phó với bao thế lực cản trở, phá hoại mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.
Thứ tư, mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới những năm 60 của thế kỷ XX cũng có những ảnh hưởng nhất định đối với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Sự lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa, của phong trào cách mạng thế giới và sự ủng hộ tinh thần, vật chất có ý nghĩa động viên rất lớn. Trong thời gian này, phe xã hội chủ nghĩa thế giới lớn mạnh vượt bậc về mọi mặt, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ và giành được nhiều thắng lợi. Sự khẳng định xu thế thời đại quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới là một tiềm lực chính trị mang sức mạnh động viên, cổ vũ rất lớn đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiên, chính tình hình thuận lợi đó lại làm cho con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam bị ảnh hưởng và phụ thuộc vào mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và Trung Quốc.
Xuất phát từ những đặc điểm trên, Hồ Chí Minh thấu hiểu được những khó khăn, trở ngại trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì thế, Người yêu cầu phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng, phải am hiểu, thông thuộc lịch sử, địa lý và con người Việt Nam, tránh tình trạng có khi “hiểu biết về thế giới, về lịch sử các nước, về những cái hay của loài người”... “Nhưng khi hỏi đến các vị anh hùng là tổ tiên, ông cha mình, hỏi đến địa lý nước mình thì mù tịt”. Điều đó đòi hỏi phải đi sâu vào thực tiễn để điều tra, khảo sát, từ tổng kết thực tiễn mà đề xuất những vấn đề lý luận cho cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, điều mà Hồ Chí Minh trăn trở là tìm ra hình thức, bước đi, biện pháp tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, biến nhận thức lý luận thành chương trình hành động, thành hoạt động thực tiễn hằng ngày. Để xác định biện pháp, cách làm phù hợp với đặc điểm của Việt Nam, Hồ Chí Minh đề ra hai nguyên tắc có tính chất phương pháp luận:
- Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một hiện tượng phổ biến mang tính quốc tế, cần quán triệt các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng chế độ mới, có thể tham khảo, học tập kinh nghiệm của các nước tiên tiến, nhưng không được sao chép máy móc, giáo điều. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam muốn thực hiện thành công thì một trong những vấn đề đặt ra là phải xây dựng cho được hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội. Để làm được điều đó, một trong những yêu cầu quan trọng là phải học tập, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội của các nước anh em. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội trở thành hệ thống thế giới. Vì vậy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một hiện tượng phổ biến. Tuy nhiên, khi vận dụng vào hoàn cảnh một dân tộc cụ thể, với những đặc điểm riêng của dân tộc ấy thì phải vận dụng sao cho linh hoạt, sáng tạo và phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “... học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta... Khi vận dụng thì bổ sung, làm phong phú thêm lý luận bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn cách mạng của ta”.
Việc học tập, vận dụng kinh nghiệm của các nước anh em cần phải được thực hiện theo tinh thần độc lập, tự chủ, lấy thực tế Việt Nam làm điểm xuất phát và làm tiêu chuẩn đánh giá, kiểm nghiệm tính khoa học của kinh nghiệm nước ngoài. Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, đối với Việt Nam, hiểu chủ nghĩa xã hội không chỉ là vấn đề bản chất và mục tiêu mà muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội còn phải có phương thức, biện pháp, cách làm đúng với những bước đi thích hợp. Người rất chú trọng gắn lý luận với thực tiễn, học hỏi, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài nhưng phải biết cách vận dụng sáng tạo với tinh thần độc lập tự chủ để tự mình tìm ra cách giải quyết những vấn đề của chính mình trên con đường phát triển mới mẻ, phức tạp, chưa hề có tiền lệ trong lịch sử.
- Xác định bước đi và biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội chủ yếu xuất phát từ điều kiện, đặc điểm dân tộc, nhu cầu khách quan và khả năng thực tế của Nhân dân. Xuất phát từ quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử cụ thể, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, phải chống giáo điều, rập khuôn kinh nghiệm của nước ngoài. Người nói: “Muốn đỡ phạm sai lầm thì chúng ta phải học tập kinh nghiệm các nước anh em và áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo”. Người chỉ rõ: “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”. Do đó, “ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Người khẳng định: “Hiện nay đứng về mặt xây dựng chủ nghĩa xã hội, tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi dào của các nước anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta”. Như vậy, đối với Hồ Chí Minh, việc phân tích đúng đắn đặc điểm cơ bản của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là điều kiện tiên quyết để hiểu rõ và nắm vững quy luật phát triển về con đường đi lên của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.
+ Theo Hồ Chí Minh, cách làm tốt nhất để có chủ nghĩa xã hội là dựa vào dân, đem tài dân, sức dân mà mưu cầu hạnh phúc cho dân. Người viết: “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”. Chủ nghĩa xã hội của dân, do dân, vì dân là một chủ nghĩa xã hội mà sức sông của nó được khơi nguồn từ sức sáng tạo vô tận của Nhân dân, là “chủ nghĩa xã hội nhân dân”, chứ không phải là “chủ nghĩa xã hội nhà nước”. Nếu không giác ngộ toàn dân, không phát huy được tinh thần làm chủ và sức sáng tạo của Nhân dân, thì không thể có chủ nghĩa xã hội. Người nói: “Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người”.
+ Kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân là một trong những đặc điểm có tính quy luật của chủ nghĩa xã hội, hay nói cách khác, phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa tất yếu phải có kế hoạch. Tuy nhiên, nhiều chủ trương, kế hoạch được đề ra rất hay, rất toàn diện, nhưng lại không đi vào cuộc sống, không biến thành hiện thực là vì thiếu một hệ thông biện pháp khả thi. Vì thế, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò quyết định của biện pháp thực hiện. Người nói: “Đặt ra kế hoạch thật tốt, thật sát là rất cần, nhưng đó chỉ là bước đầu. Kế hoạch 10 phần thì biện pháp cụ thể phải 20 phần, chỉ đạo thực hiện sát sao phải 30 phần. Có như thế mới chắc chắn hoàn thành tốt kế hoạch”.
+ Trong cách mạng giải phóng dân tộc, nhờ phát huy độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến vĩ đại, góp phần phát triển, làm phong phú lý luận Mác - Lênin trong thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh tự giải phóng. Cũng với tinh thần ấy, Hồ Chí Minh đã có những tìm tòi sáng tạo trong viêc đưa ra những biên pháp và cách làm phù hợp để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Viêt Nam. Đó là, muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì phải làm đúng quy luật, thuận lòng dân và phù hợp với thời đại.
Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Đảng Cộng sản Viêt Nam đã đề ra các nhiêm vụ, mục tiêu của thời kỳ quá độ, đó là một quá trình lịch sử rất lâu dài, trải qua hàng thế kỷ, nối tiếp nhiều thế hê. Khái niêm “bước đi ban đầu”, “chặng đường đầu”, “chặng đường tiếp theo” thể hiên mặt định tính và định lượng trong phát triển thời kỳ quá độ ở Viêt Nam đã hình thành từ thực tiễn đổi mới trên những đường nét cơ bản.
Nhận thức của Đảng về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Viêt Nam có những đổi mới sâu sắc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua viêc xác lập vị trí thống trị của quan hê sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biêt là về khoa học và công nghê để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, gọi là thời kỳ quá độ với ý nghĩa là Việt Nam phải trải qua một trạng thái xã hội mang tính trung gian, chuyển tiếp giữa phương thức sản xuất cũ và phương thức sản xuất mới, trong đó nền kinh tế là nền kinh tế quá độ gồm nhiều thành phần kinh tế. Dù Việt Nam không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa với tư cách là một hình thái kinh tế - xã hội thống trị, nhưng về phương diện kinh tế phải tôn trọng quá trình phát triển tự nhiên của nền kinh tế, không thể bỏ qua việc phát triển sức sản xuất xã hội, xã hội hóa sản xuất trong thực tế. Song, nhờ cách mạng khoa học và công nghệ, nhờ hợp tác kinh tế quốc tế đa phương, đa dạng cho phép có thể tận dụng đại công nghiệp của cả thế giới để có thể “rút ngắn” quá trình phát triển kinh tế đất nước. Sự phát triển “rút ngắn” chỉ có nghĩa là đẩy nhanh tương đối quá trình phát triển lịch sử tự nhiên, bằng những khâu trung gian, bằng những hình thức, bước đi quá độ - được coi là rất cần thiết và có ý nghĩa đặc biệt đối với những nước mà sản xuất nhỏ là phổ biến đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, phải tôn trọng và vận dụng sáng tạo những tính quy luật của quá trình từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Đại hội IX nhấn mạnh: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ” và “Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau”. Tổng kết những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Nhân dân Việt Nam đạt được qua 30 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII khẳng định: “con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”.
Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH ở nước ta là không bao giờ thay đổi. Độc lập dân tộc là điều kiện để đi lên chủ nghĩa xã hội, ngược lại chủ nghĩa xã hội là điều kiện để đảm bảo độc lập dân tộc. Vì đây “là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Đương nhiên, vấn đề không chỉ là mục tiêu, lý tưởng, mà điều quan trọng là phải tìm ra giải pháp, bước đi, cách làm khoa học, sáng tạo nhằm thực hiện cho bằng được mục tiêu, lý tưởng đã xác định. CNXH của chúng ta xây dựng không phải là CNXH bị hiểu sai và làm sai, mà là CNXH khoa học, CNXH đổi mới đúng đắn trên tinh thần phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn đất nước. Như một chỉ dẫn mang tính nguyên lý của lãnh tụ vĩ đại V.I.Lênin: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là điều không thể tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”.