Trong một nghiên cứu về sự đáp ứng của hệ tim mạch với sự luyện tập thể dục, một người phụ nữ đáp ứng các tiêu chí nghiên cứu (từ 25 đến 40 tuổi,
32/44
Trong một nghiên cứu về sự đáp ứng của hệ tim mạch với sự luyện tập thể dục, một người phụ nữ đáp ứng các tiêu chí nghiên cứu (từ 25 đến 40 tuổi, không dùng thuốc, cân nặng bình thường về chiều cao, huyết áp bình thường) được chọn để nghiên cứu. Các thông số đối chứng (trước luyện tập thể dục) về huyết áp, nhịp tim và PO2 động mạch và tĩnh mạch; thể tích tâm thu của cô được xác định. Sau đó người phụ nữ này đi trên một máy chạy bộ trong thời gian 30 phút với vận tốc 3 dặm/giờ. Huyết áp và nhịp tim của cô được theo dõi liên tục, và PO2 động mạch và tĩnh mạch của cô được đo vào cuối giai đoạn tập thể dục (Bảng dưới đây)
Thông số | Đối chứng (trước luyện tập) | Khi luyện tập thể dục |
Huyết áp tâm thu | 110 mm Hg | 145 mm Hg |
Huyết áp tâm trương | 70 mm Hg | 60 mm Hg |
Nhịp tim | 75 nhịp/phút | 130 nhịp/phút |
Thể tích tâm thu | 80 mL | 110 mL |
PO2 động mạch | 100 mm Hg | 100 mm Hg |
PO2 tĩnh mạch | 40 mm Hg | 25 mm Hg |
Mỗi nhận định sau đây đúng, sai?
Khi tập luyện thể dục, huyết áp tâm thu của người này được tăng lên và huyết áp tâm trương giảm đi.
Tim cần gia tăng nhịp để đẩy các chất cần thiết đến với các tế bào nên nhịp tim tăng khi tập luyện thể dục.
Áp suất oxyzen ở động mạch tăng khi luyện tập thể dục vì tế bào đã sử dụng ít oxy hơn.
Thể thao đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe thể chất.
Đ Đ S Đ