Trong không gian chọn hệ trục tọa độ cho trước, đơn vị đo lấy kilômét, ra đa phát hiện một máy bay chiến đấu của Nga di chuyển với vận tốc và hướng không đổi từ điểm M ( 600 ; 400 ; 20 ) đến
Gọi \(Q\left( {x;y;z} \right)\) là tọa độ của máy bay sau 15 phút tiếp theo.
\(\overrightarrow {MN} = \left( {200;100;10} \right)\)
\(\overrightarrow {NQ} = \left( {x - 800;y - 500;z - 30} \right)\)
Vì máy bay giữ nguyên hướng bay nên \(\overrightarrow {MN} \) và \(\overrightarrow {NQ} \) cùng hướng.
Do máy bay tiếp tục giữ nguyên vận tốc và thời gian bay từ \(M \to N\) gấp 2 lần thời gian bay từ \(N \to Q\) nên \(MN = 2NQ\)
Suy ra \[\overrightarrow {MN} = 2\overrightarrow {NQ} \Leftrightarrow \left\{ \begin{array}{l}200 = 2\left( {x - 800} \right)\\100 = 2\left( {y - 500} \right)\\10 = 2\left( {z - 30} \right)\end{array} \right. \Leftrightarrow \left\{ \begin{array}{l}x = 900\\y = 550\\z = 35\end{array} \right. \Rightarrow Q\left( {900;550;35} \right)\]
Tọa độ của máy bay sau 15 phút tiếp theo là \[\left( {900;550;35} \right)\]