100 câu bài tập Tư tưởng Hồ Chí Minh (có đáp án) - Phần 1

Tính đúng đắn và sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc biểu hiện như thế nào? Phân tích nội dung đó để làm rõ.

Giải thích

1. Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của các dân tộc

Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Người đã tìm hiểu, tiếp nhận những nhân tố về quyền con người được nêu trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của Pháp, như quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Từ quyền con người, Người đã khái quát lên chân lý bất di bất dịch về quyền cơ bản của các dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Thay mặt những người yêu nước Việt Nam ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã gửi tới Hội nghị Vécxây (năm 1919) bản Yêu sách của nhân dân An Nam đòi quyền tự do dân chủ tối thiểu, quyền bình đẳng về pháp lý, đòi thay chế độ ra sắc lệnh bằng các đạo luật. Bản yêu sách không được chấp nhận, dù chỉ là những đòi hỏi “rất ôn hòa cả về nội dung và hình thức”. Chính từ thực tế đó, Hồ Chí Minh rút ra kết luận, “chủ nghĩa Uynxơn” thực ra “chỉ là một trò bịp bợm lớn”. Điều đó giúp Hồ Chí Minh hiểu được rằng muốn đánh đuổi chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc và được giải phóng không thể trông cậy vào lực lượng bên ngoài, không thể bằng con đường thương lượng, đàm phán mà phải tự mình đứng lên đấu tranh giành độc lập.

Quyền bình đẳng dân tộc, độc lập tự do là quyền tự nhiên, quyền thiêng liêng, vô giá của các dân tộc. Vì vậy, bất cứ giá nào nhân dân các dân tộc cũng phải giành lại và bảo vệ cho bằng được. Trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh khẳng định trước toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Trong các bức thư và điện văn gửi tới Liên hợp quốc và Chính phủ các nước vào thời gian đó, Người đã trịnh trọng tuyên bố “nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ thể hiện quyết tâm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc. Người kêu gọi: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Khi Mỹ mở rộng chiến tranh leo thang bắn phá miền Bắc, Hồ Chí Minh kêu gọi: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Không có gì quý hơn độc lập, tự do không chỉ là lẽ sống, là học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh mà nó còn là lý do chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của Việt Nam. Đồng thời, cũng là nguồn động viên đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Vì vậy, Người không chỉ được tôn vinh là “Anh hùng giải phóng dân tộc” của Việt Nam mà còn được thừa nhận là người khởi xướng cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa trong thế kỷ XX.

2. Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, cơm no, áo ấm và hạnh phúc của Nhân dân, gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Khát vọng mà suốt cuộc đời Người luôn hướng tới là giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của đế quốc xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho Nhân dân. Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Khát vọng của Người cũng chính là khát vọng của tất cả mọi người dân yêu nước, là mục tiêu của cách mạng, của dân tộc Việt Nam. Với Người, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Dân chúng chỉ cảm nhận được giá trị thực sự của độc lập, tự do khi họ được ăn no, mặc ấm, được học hành để phát triển, có hiểu biết để thực hành quyền dân chủ, quyền và nghĩa vụ của người công dân.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nội dung cốt lõi xuyên suốt toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh; thể hiện sự nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Người. Từ khi trở thành người cộng sản cho đến khi trở thành lãnh tụ, nguyên thủ quốc gia, mối quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội phù hợp với từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam.

Với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội là con đường củng cố vững chắc độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc một cách hoàn toàn triệt để. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng triệt để các dân tộc bị áp bức khỏi ách nô lệ; chỉ có cách mạng xã hội chủ nghĩa mới bảo đảm cho một nền độc lập thật sự, chân chính”.

3. Độc lập dân tộc phải là nền độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn

Dân tộc độc lập phải được thể hiện trên tất cả các mặt: chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự, toàn vẹn lãnh thổ; mọi vấn đề thuộc chủ quyền của một dân tộc phải do chính nhân dân dân tộc đó tự quyết định, không có sự can thiệp của nước ngoài.

Sau Cách mạng Tháng Tám, để bảo vệ nền độc lập mới giành được, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Sainteny, đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp bản Hiệp định Sơ bộ ngày 06/3/1946, trong đó ghi: “Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Cộng hòa là một quốc gia tự do có Chính phủ của mình, Nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình”.

Nền độc lập của dân tộc phải được gắn liền với việc lãnh thổ được toàn vẹn.

Trong Thư gửi đồng bào Nam Bộ năm 1946, Hồ Chí Minh viết: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”.

Sau Hiệp định Giơnevơ (năm 1954), Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền, Hồ Chí Minh tiếp tục kiên trì đấu tranh chống lại âm mưu chia cắt đất nước của kẻ
thù. Người viết: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai có thể
chia cắt được”. Trong Di chúc, Người vẫn thể hiện niềm tin tuyệt đối vào sự thắng lợi của cách mạng để thống nhất nước nhà.

-> Độc lập, tự do không chỉ là tư tưởng mà còn là lẽ sống, là học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh, là mục tiêu chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của dân tộc Việt Nam.

4. Giữ vững độc lập của dân tộc mình đồng thời tôn trọng độc lập của các dân tộc khác

Là một người yêu nước và là một chiến sĩ quốc tế chân chính, Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh đòi quyền độc lập tự do và hòa bình cho dân tộc Việt Nam, mà còn đấu tranh cho độc lập của tất cả các dân tộc bị áp bức.

Nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, thực hiện nguyên tắc về quyền dân tộc tự quyết, nhưng Hồ Chí Minh không quên nghĩa vụ quốc tế trong việc ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới, với phương châm “giúp bạn là tự giúp mình”.

-> Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc mang tính khoa học và cách mạng sâu sắc, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.