Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực”. Ý nghĩa của quan điểm đó đối với cách mạng Việt Nam hiện nay?
Tính tất yếu của bạo lực cách mạng
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng, bạo lực cách mạng là phương pháp, là “bà đỡ” để giai cấp vô sản lật đổ nhà nước tư sản, giành và giữ vững chính quyền cách mạng. Đi từ sự phân tích, so sánh các cuộc cách mạng trong lịch sử châu Âu cũng như trên thế giới, C. Mác và Ph. Ăngghen cho rằng, bạo lực có vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội loài người nói chung và trong cách mạng vô sản nói riêng. Bạo lực nhằm đập tan và cắt bỏ những hình thức chính trị đã lạc hậu, thối nát, mở đường cho quá trình vận động và phát triển tự nhiên của xã hội có giai cấp. Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph. Ăngghen viết: “Bạo lực là công cụ mà sự vận động xã hội dùng để tự mở đường cho mình và đập tan những hình thức chính trị đã hóa đá và chết cứng”. Với kinh nghiệm cách mạng thế giới và Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I. Lênin tiếp tục khẳng định tính tất yếu của bạo lực cách mạng và làm sáng tỏ hơn trong học thuyết về cách mạng vô sản rằng, không có bạo lực thì không thể thay thế nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản được.
Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định hành động xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc nhỏ yếu là một hành động bạo lực phản cách mạng. Vì vậy, các dân tộc thuộc địa phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, để giành và giữ vững nền độc lập dân tộc. Người khẳng định: “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lây chính quyền và bảo vệ chính quyền”. Trong điều kiện cách mạng cụ thể của Việt Nam, bạo lực cách mạng theo Hồ Chí Minh là bạo lực của quần chúng nhân dân, bao gồm hai lực lượng là lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang với hai hình thức là đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Lực lượng chính trị là toàn dân tộc được tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Lực lượng vũ trang gồm dân quân du kích, bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực. Tuy nhiên, phải “Tùy tình hình cụ thể mà quyết định những hình thức đấu tranh cách mạng thích hợp, sử dụng đúng và khéo kết hợp các hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị để giành thắng lợi cho cách mạng”.
+ Sử dụng bạo lực cách mạng là tất yếu khách quan, nhưng đặc biệt phải biết phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân thì sự nghiệp đấu tranh mới giành được thắng lợi. Xuất phát từ tương quan lực lượng lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, Hồ Chí Minh chủ trương phát động chiến tranh nhân dân, dựa vào toàn dân tộc, có lực lượng vũ trang làm nòng cốt, đấu tranh toàn diện với phương châm đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Bạo lực cách mạng theo quan niệm của Hồ Chí Minh là bạo lực của quần chúng bị áp bức, bóc lột, được giác ngộ và tổ chức để chống lại giai cấp thống trị. Người khẳng định: “Cách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không phải việc một hai người”, do đó “Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được”. Trong chiến tranh, “quân sự là việc chủ chốt”, nhưng đồng thời phải kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, ngoại giao, đấu tranh trên tất cảcác mặt trận: kinh tế, văn hóa, xã hội. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thắng lợi quân sự đem lại thắng lợi chính trị. Những thắng lợi chính trị đó sẽ làm cho ta thắng lợi về quân sự to lớn hơn”. Đấu tranh ngoại giao cũng là một mặt trận có ý nghĩa chiến lược, có ý nghĩa thêm bạn, bớt thù, phân hóa và cô lập kẻ thù, phát huy yếu tố chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế... Đấu tranh kinh tế là ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát triển kinh tế của ta, phá hoại kinh tế của địch. Người coi “ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ”, vì vậy mỗi người phải chắc tay cày tay súng, tay búa tay súng, ra sức phát triển sản xuất để phục vụ kháng chiến.
+ Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... đặc biệt, thực dân Pháp có dã tâm dùng sức mạnh quân sự, đánh nhanh, thắng nhanh để cướp nước ta một lần nữa. Trước tình hình ấy, Hồ Chí Minh chủ trương “trường kỳ kháng chiến”. Người nói: “Địch muốn tốc chiến, tốc thắng. Ta lấy trường kỳ kháng chiến trị nó, thì địch nhất định thua, ta nhất định thắng”. Kháng chiến lâu dài nhưng không có nghĩa là vô thời hạn mà là tranh thủ thời gian để xây dựng, phát triển lực lượng kháng chiến ngày càng lớn mạnh. Tự lực cánh sinh cũng là một phương châm chiến lược rất quan trọng, nhằm phát huy cao độ nguồn sức mạnh chủ quan, tránh tư tưởng bị động, trông chờ vào sự giúp đỡ bên ngoài. Mặc dù rất coi trọng sự giúp đỡ quốc tế nhưng Hồ Chí Minh luôn đề cao sức mạnh bên trong, phát huy đến mức cao nhất mọi nỗ lực của dân tộc, đề cao tinh thần độc lập, tự chủ; muốn người ta giúp cho thì tự mình phải giúp lấy mình đã; tự lực cánh sinh nhưng phải tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình và giúp đỡ của quốc tế”. Đây cũng là nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tư tưởng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh có sự gắn bó hữu cơ với tư tưởng nhân đạo và hòa bình
* Xuất phát từ tình yêu thương, quý trọng con người, Hồ Chí Minh luôn tranh thủ khả năng giành và giữ chính quyền bằng cách ít đổ máu nhất. Người tìm mọi cách ngăn chặn xung đột vũ trang, tận dụng mọi khả năng giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình, chủ động đàm phán, thương lượng, chấp nhận những nhượng bộ có nguyên tắc.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người nhiều lần gửi thư cho Chính phủ và nhân dân Pháp, cho tướng lĩnh, binh sĩ trong quân đội Pháp và những kiều dân Pháp ở Việt Nam nhằm kêu gọi thiết lập một nền hòa bình cho cả hai dân tộc: “Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và Việt ngừng chảy. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau. Chúng tôi mong đợi ở Chính phủ và nhân dân Pháp một cử chỉ mang lại hòa bình. Nếu không, chúng tôi bắt buộc phải chiến đấu đến cùng để giải phóng hoàn toàn đất nước”. Năm 1964, Đáp án: Tạp chí Mainôrity Ốp Oăn (Mỹ), Hồ Chí Minh nói: “Nhân dân Việt Nam hiểu rõ rằng nhân dân Mỹ muốn sống hòa bình và hữu nghị với các dân tộc khác. Tôi đã đến nước Mỹ, tôi hiểu nhân dân Mỹ rất trọng chính nghĩa và có nhiều tài năng. Nhân dân Việt Nam không bao giờ nhầm lẫn nhân dân Mỹ yêu chuộng công lý với những Chính phủ Mỹ đã phạm nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam chúng tôi từ mười năm nay. Chính những kẻ đang phá hoại nền độc lâp, tự do của dân tộc chúng tôi, cũng là những kẻ đã phản bội bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ”. Trong bức thư gửi Tổng thống Mỹ năm 1969, Người viết: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình”.
Tư tưởng bạo lực cách mạng và tư tưởng nhân đạo hòa bình thống nhất biện chứng với nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người chủ trương tranh thủ mọi khả năng hòa bình để giải quyết xung đột, nhưng một khi không thể tránh khỏi chiến tranh thì phải kiên quyết tiến hành chiến tranh, kiên quyết dùng bạo lực cách mạng, dùng khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng để giành, giữ và bảo vệ hòa bình, vì độc lập, tự do. Trong thời kỳ kháng chiến kiến quốc (1945 - 1946) khi Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chủ trương hòa với Tưởng để đánh Pháp, nhân nhượng với Pháp bằng việc ký bản Hiệp định Sơ bộ 06/3 và Tạm ước 14/9/1946, nhưng thực dân Pháp vẫn bội ước, Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến vào đêm 19/12/1946, trong đó khẳng định: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!... Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!”.
Ý nghĩa của quan điểm đối với cách mạng Việt Nam hiện nay
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 với sự ra đời nhà nước cách mạng đầu tiên ở Đông Nam Á là bằng chứng chứng minh tính đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng trong đấu tranh giành chính quyền. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo tư tưởng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh, đề ra các hình thức đấu tranh phù hợp với từng thời kỳ cách mạng, trên mỗi địa bàn chiến lược, thực hiện khởi nghĩa từng phần ở từng địa phương, tạo thời cơ và chớp thời cơ cách mạng, lãnh đạo nhân dân thực hiện đấu tranh trên phạm vi cả nước giành thắng lợi.
Công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay đòi hỏi Đảng phải nắm vững và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Gọi xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược, vì mỗi nhiệm vụ nhằm vào một mục tiêu khác nhau, tuân thủ theo những quy luật khác nhau trong hoạt động xã hội. Nhưng hai nhiệm vụ chiến lược này luôn gắn bó hữu cơ với nhau, cùng nhau thực hiện một mục đích là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nhiệm vụ chiến lược này thực hiện có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho nhiệm vụ chiến lược kia tiến hành một cách thuận lợi. Xây dựng đất nước càng vững mạnh, càng thúc đẩy nhu cầu và bổ sung tiềm lực cho bảo vệ Tổ quốc. Giữ vững được toàn vẹn lãnh thổ, giữ được hòa bình và ổn định sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế của đất nước. Nếu tách rời hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là biểu hiện của việc tách rời giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Như vậy, chính từ mối quan hệ hữu cơ giữa hai nhiệm vụ chiến lược đòi hỏi phải vận dụng sáng tạo tư tưởng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.