100 câu bài tập Tư tưởng Hồ Chí Minh (có đáp án) - Phần 1

Phân tích luận điểm của Hồ Chí Minh: “Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản”. Ý nghĩa của luận điểm đó đối với tiến trình phát triển của lịch sử

Giải thích

Hồ Chí Minh nghiên cứu phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Phong trào Cần Vương (1885 - 1896) do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, mở đầu bằng cuộc tiến công trại lính Pháp ở cạnh kinh thành Huế (năm 1885).

Việc không thành, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), hạ chiếu Cần Vương. Mặc dù sau đó Hàm Nghi bị bắt, nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển, nhất là ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa:

Ba Đình của Phạm Bành và Đinh Công Tráng (1886 - 1887), Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật (1883 - 1892) và Hương Khê của Phan Đình Phùng (1885 - 1896). Cùng thời gian này còn nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, kéo dài đến năm 1913. Thất bại của phong trào Cần Vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và khuynh hướng thiết lập nhà nước phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra. Phong trào Cần Vương tan rã, các sĩ phu, các nhà yêu nước lúc bấy giờ đều tập trung suy nghĩ về nguyên nhân mất nước, con đường cứu nước để giải phóng dân tộc.

Đầu thế kỷ XX, mặc dù giai cấp tư sản Việt Nam chưa ra đời nhưng hệ tư tưởng tư sản đã ảnh hưởng đến Việt Nam. Các trí thức phong kiến tiếp thu hệ tư tưởng này làm vũ khí chống Pháp, dấy lên phong trào yêu nước sôi nổi với hai xu hướng bạo động và cải cách.

Đại diện tiêu biểu cho xu hướng bạo động là Phan Bội Châu. Với lòng yêu nước sâu sắc, Phan Bội Châu chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp và thành lập một chính phủ quân chủ lập hiến. Ông chủ trương dùng phương pháp bạo động đánh đuổi thực dân Pháp để khôi phục độc lập dân tộc và dựa vào Nhật để đánh đuổi Pháp.
Năm 1908, trước yêu cầu của thực dân Pháp, Chính phủ Nhật đã trục xuất những người Việt Nam yêu nước ra khỏi Nhật Bản. Phong trào Đông Du tan rã. Năm 1911, cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc thành công, lật đổ nền quân chủ Mãn Thanh lập ra Nhà nước Trung Hoa Dân quốc, Phan Bội Châu đã chuyển lập trường từ chủ nghĩa quân chủ sang chủ nghĩa dân chủ. Ông tuyên bố giải tán Duy Tân hội và thành lập Việt Nam Quang Phục hội, nhằm mục đích đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa Dân quốc Việt Nam. Để đạt được những mục tiêu trên, Phan Bội Châu đã chủ trương đấu tranh bằng phương pháp bạo động vũ trang giành chính quyền. Chủ trương trên của Phan Bội Châu bước đầu đạt được một số kết quả như: cuộc bạo động của đội Quyến, đội Phấn, ấm Võ ở vùng Nghệ - Tĩnh, ném bom vào khách sạn của Pháp ở Hà Nội, ám sát Tuần phủ ở Thái Bình, cuộc khởi nghĩa ở Thái Nguyên... Tuy nhiên, chủ trương bạo động giành chính quyền của Phan Bội Châu không diễn ra theo ý muốn, cuối cùng dẫn đến kết cục thất bại trước sự đàn áp của thực dân Pháp. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh viết:

“Ám sát là làm liều, và kết quả ít, vì giết thằng này còn thằng khác, giết sao cho hết? Cách mênh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ 5, 7 người giết 2, 3 anh vua, 9, 10 anh quan mà được”.

Đại diện cho xu hướng cải lương, cải cách là Phan Châu Trinh. Phan Châu Trinh đã phê phán gay gắt sự lạc hậu, tính trì trê, yếu hèn của Nhà nước quân chủ phong kiến Viêt Nam. Ông cho rằng trình độ của Nhân dân Viêt Nam lúc đó còn rất thấp nên muốn làm cách mạng thì trước hết phải khai dân trí (khai trí cho dân) và nâng cao quyền tự do dân chủ. Nhưng quyền hành lại nằm trong tay các vua quan, vì vậy phải đánh đổ vua quan thì mới khai được dân trí. Do đó, phải tiến hành đấu tranh bằng con đường cải lương, đòi quyền tự do dân sinh, dân chủ, tạm thời dựa vào Pháp để đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến. Đây là một cách nhận thức không đúng cả về phương hướng và phương pháp đấu tranh, vì đặc trưng cơ bản của xã hội Việt Nam lúc này là xã hội thuộc địa. Thực dân Pháp và một bộ phận địa chủ, phong kiến tay sai câu kết với nhau để bóc lột nhân dân. Sự ngộ nhận về bản chất kẻ thù là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến phương pháp đấu tranh không đúng của ông. Đau xót trước cảnh dân tộc mất độc lập, nhân dân nô lệ, nhiệt thành với công cuộc chấn hung dân tộc, nhưng Phan Châu Trinh không thấy được nguồn gốc của việc mất nước, của sự lạc hậu là do chủ nghĩa thực dân Pháp gây ra.

Trong những năm 20 của thế kỷ XX, một số nhân sĩ trí thức yêu nước đã có những hoạt động vì công cuộc giải phóng dân tộc, trong đó đáng chú ý là những hoạt động của Huỳnh Thúc Kháng. Đặc điểm nổi bật trong những hoạt động của Huỳnh Thúc Kháng là vận động công khai nhằm chấn hưng dân tộc. Ông cho rằng con đường cách mạng công khai, hợp pháp là con đường có nhiều khả năng dẫn đến thành công. Tuy nhiên, sau đó ông đã nhận ra rằng nghị trường tư sản và con đường cách mạng hợp pháp công khai mà ông theo đuổi chỉ là ảo tưởng.

-> Như vậy, con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản cũng bị thất bại và không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử dân tộc Việt Nam đặt ra lúc bấy giờ. Nguyên nhân thất bại của phong trào yêu nước Việt Nam giữa thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã thể hiện sự khủng hoảng về đường lối cách mạng, về lực lượng lãnh đạo có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của lịch sử, đặc biệt trong đó phải nói đến sự bế tắc về phương pháp đấu tranh của các sĩ phu, văn thân yêu nước đương thời.

Từ những bài học thực tiễn của các phong trào yêu nước Việt Nam là cơ sở quan trọng để hình thành một tư duy cách mạng mới ở Hồ Chí Minh. Đó là phải tìm một con đường cứu nước mới khác với con đường cứu nước của các vị cách mạng tiền bối. Chính vì vậy, Người đã quyết định đi ra nước ngoài để tìm con đường cứu nước, giành độc lập cho dân tộc, mang lại hạnh phúc, ấm no cho Nhân dân.

Hồ Chí Minh nghiên cứu các cuộc cách mạng trên thế giới

Nghiên cứu cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Mỹ, Hồ Chí Minh đối chiếu thể chế chính trị của nước Mỹ với cuộc sống của các giai cấp, dân tộc thuộc nhiều màu da khác nhau, Người đi đến kết luận: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần
thứ hai. Ấy là vì cách mệnh Mỹ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản là chưa phải cách mệnh đến nơi”. Nghiên cứu cuộc cách mạng Pháp năm 1789, Hồ Chí Minh đã học được nhiều kinh nghiệm quý, nâng cao tầm hiểu biết về vai trò của các giai cấp trong cách mạng tư sản, về tổ chức, tinh thần, ý chí cách mạng của quần chúng.

Nhưng Người thấy rằng, “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”.

Nghiên cứu cách mạng Nga, đặc biệt là Cách mạng Tháng Mười (năm 1917), Hồ Chí Minh nhận thấy đó là một cuộc cách mạng giai cấp, đồng thời là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nằm trong dòng chảy liên tục của quá trình giải phóng con người. Nó làm cho phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Người viết: “Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay. Cách mạng Tháng Mười đã mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”. Xét về bản chất Cách mạng Tháng Mười như là một sự nổi trội, vượt xa và khác hẳn các cuộc cách mạng xã hội từng diễn ra trong lịch sử trước đó, vì: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”.

Hồ Chí Minh nghiên cứu lý luận và lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc

Sau khi đọc được Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin đăng trên báo Nhân đạo (L’Humanité) trong hai số ngày 16 và 17/7/1920, một tờ báo của cánh tả Đảng Xã hội Pháp, Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Người kể lại rằng bản Luận cương có những chữ khó hiểu, nhưng “tôi đọc đi đọc lại và dần dần tôi hiểu ý nghĩa của nó một cách sâu sắc. Bản Luận cương làm cho tôi cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng” và Người nhận thấy “đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”.
Từ đó, Người đã có một sự lựa chọn: “tán thành Quốc tế thứ ba và hoàn toàn tin theo Lênin”. Cả một quá trình phấn đấu, suy nghĩ về vận mệnh đất nước, rút kinh nghiệm, khảo sát trong nhiều năm tháng về con đường giải phóng dân tộc, học tập lý luận, tham gia đấu tranh chính trị, vào Đảng Xã hội, sát cánh với giai cấp công nhân và trí thức cách mạng Pháp, với những đồng bào yêu nước của mình trên đất Pháp, là những tiền đề quan trọng chuẩn bị cho Hồ Chí Minh gặp gỡ và tiếp nhận những quan điểm của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Người đã có thêm những nhận thức mới, sáng rõ hơn về cách mạng thuộc địa, về con đường giải phóng các dân tộc khỏi gông cùm nô lệ, con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho Nhân dân.

-> Chính Luận cương của V.I. Lênin đã tạo ra bước ngoặt căn bản trong sự phát triển nhận thức, tư tưởng của Hồ Chí Minh. Nó phù hợp và đáp ứng những tình cảm, suy nghĩ, hoài bão được ấp ủ từ lâu, nay trở thành hiện thực.

-> Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã có sự sáng tạo trong việc vạch ra phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, Người chỉ rõ “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.

Ý nghĩa của luận điểm đối với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam

Những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam như:

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, những thắng lợi trong 30 năm chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 là thắng lợi của chiến lược giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh theo con đường cách mạng vô sản, con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ thực tiễn hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước cho thấy, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản. Cũng từ chính thực tiễn đó, cho phép chúng ta khẳng định con đường mà Hồ Chí Minh lựa chọn là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh, một hệ tư tưởng có giá trị, một học thuyết giải phóng và phát triển dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân Việt Nam sẽ vượt qua mọi khó khăn, trở ngại, kiên trì mục tiêu xây dựng Việt Nam thành một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các nước tiên tiến trên thế giới.

Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng Việt Nam vẫn vượt qua và đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của Việt Nam không ngừng tăng lên, có được sự thành công đó chính là chúng ta kiên định tính đảng trong quá trình phát triển. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nêu quan điểm: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Đây là quan điểm có tính nguyên tắc, bất di bất dịch, thể hiện bản lĩnh vững vàng của Đảng, cốt lõi của quan điểm này là kết hợp khoa học sự kiên định trước sau như một nền tảng tư tưởng, mục tiêu lý tưởng, đường lối đổi mới và nguyên tắc xây dựng Đảng với tinh thần không ngừng đổi mới sáng tạo trên cơ sở tuân theo các quy luật khách quan, kế thừa tinh hoa văn hóa, truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và những kinh nghiệm thành công của quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Kiên định nhưng không cứng nhắc, bảo thủ, giáo điều dẫn đến trì trệ; đổi mới sáng tạo nhưng không cực đoan, duy ý chí, mạo hiểm, dẫn đến đổ vỡ. Kiên định một cách sáng tạo, sáng tạo trên cơ sở kiên định, hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đại hội XII của Đảng: “Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy tinh hoa văn hoá nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục yêu cầu nắm vững và xử lý tốt những mối quan hệ lớn, phản ánh quy luật mang tính biện chứng, trong đó, đề cập đến mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.