Một quả bóng được phát lên từ vị trí gốc toạ độ O trong hệ trục toạ độ Oxyz như hình vẽ (đơn vị mét). Quả bóng bay theo quỹ đạo parabol nằm trong mặt phẳng vuông góc với mặt sân bóng ( Oxy
Đáp án: 41,6
+ Ta có \(O \equiv {A_0}\left( {0;\,0;\,0} \right)\) vị trí chân chạm bóng
\({A_1}\left( {12;\,5;\,0} \right)\) vị trí quả bóng chạm đất lần thứ nhất
\({A_0}{A_1} = \sqrt {{{12}^2} + {5^2} + {0^2}} = 13\)
+ Các lần chạm tiếp theo có bề rộng bằng \(60\% \) bề rộng của lần nảy ngay trước đó cho nên bề rộng của các lần nảy tạo thành cấp số nhân có \({u_1} = 13;\,q = 0,6\).
Tổng độ dài đến lần nảy thứ \(n\) là \({S_n} = 13.\frac{{1 - {{0,6}^n}}}{{1 - 0,6}}\)
Theo đề bài ta có \({S_n} = 13.\frac{{1 - {{0,6}^n}}}{{1 - 0,6}} = 31,590208 \Leftrightarrow n = 7\).
+ Độ cao cực đại của các lần nảy sau bằng \(75\% \) độ cao cực đại của lần nảy ngay trước đó. Do đó độ cao cực đại của lần nảy tạo thành cấp số nhân có \({v_1} = 4;\,q = 0,75\)
Vị trí ở lần nảy thứ \(7\) có độ cao \({v_7} = 4.{\left( {0,75} \right)^6} = 0,7119140625\)
+ Ta có \({S_6} = 13.\frac{{1 - {{0,6}^5}}}{{1 - 0,6}} = 30,98368\)
Hình chiếu \({H_7}\) của đỉnh parabol thứ \(7\) nằm chính giữa đoạn \({A_6}{A_7}\)
Do đó \({A_0}{H_7} = {S_6} + \frac{{{A_6}{A_7}}}{2} = {S_6} + \frac{{{u_7}}}{2} = 30,98368 + \frac{{13.{{\left( {0,6} \right)}^6}}}{2} = 31,286944\)
Chiếu \({A_0}{H_7}\)lên \(Ox\) ta được \(x = \frac{{12}}{{13}}{A_0}{H_7} = 28,880256\)
Chiếu \({A_0}{H_7}\)lên \(Oy\) ta được \(y = \frac{5}{{13}}{A_0}{H_7} = 12,03344\).
Toạ độ đỉnh của parabol thứ \(7\) là \(M\left( {28,880256;\,12,03344;\,0,7119140625} \right)\)
\(a + b + c = 28,880256\, + \,12,03344 + \,0,7119140625 = 41,6256100625 \simeq 41,6\).
