31 bài tập Tính xác suất bằng cách sử dụng công thức xác suất toàn phần (có lời giải)

Một nhóm có 25 học sinh, trong đó có 14 em học khá môn Toán, 16 em học khá môn Vật lí, 1 em không học khá cả hai môn Toán và môn Vật lí

Giải thích

Gọi A là biến cố: “Học sinh đó học khá môn Toán";

B là biến cố: “Học sinh đó học khá môn Vật lí".

Từ bài ra ta có \(P(A) = \frac{{14}}{{25}},P(B) = \frac{{16}}{{25}},P(\bar A\bar B) = \frac{1}{{25}}\)

a) Ta cần tính \(P(AB)\). Ta có \(P(AB) = P(A) + P(B) - P(A \cup B)\).

Lại có \(P(A \cup B) = 1 - P(\bar A\bar B) = 1 - \frac{1}{{25}} = \frac{{24}}{{25}}\)

Vậy có \(P(AB) = P(A) + P(B) - P(A \cup B) = \frac{{14}}{{25}} + \frac{{16}}{{25}} - \frac{{24}}{{25}} = \frac{6}{{25}}\).

b) Cần tính \(P(A\bar B)\). vi AB và \({\rm{A}}\bar B\) là hai biến cố xung khắc và \(A = AB \cup A\bar B\) nên ta có \(P(A) = P(AB) + P(A\bar B)\).

Suy ra \(P(A\bar B) = P(A) - P(AB) = \frac{{14}}{{25}} - \frac{6}{{25}} = \frac{8}{{25}}\)

c) Xác suất để học sinh được chọn học khá môn Toán, biết rằng học sinh đó học khá môn Vật lí chính là xác suất có điều kiện \({\rm{P}}({\rm{A}}\mid {\rm{B}})\).

Ta có \(P(A\mid B) = \frac{{P(AB)}}{{P(B)}} = \frac{6}{{16}} = \frac{3}{8}\)