Một người gửi số tiền A (đồng) vào ngân hàng. Biểu lãi suất của ngân hàng như sau
Xét mệnh đề P(x): "Số tiền nhận được (bao gồm cả vốn lẫn lãi) sau x (kì hạn) gửi là Sn=A1+r100mx (đồng) (x∈ℕ*)".
Vì một năm có m kì hạn nên lãi suất mỗi kì hạn là r%m=r100m.
+) Khi x = 1:
Số tiền lãi người đó nhận được là: A . r100m (đồng).
Số tiền nhận được (bao gồm cả vốn lẫn lãi) là:
A + A . r100m = A1+r100m=A1+r100m1 (đồng)
Vậy mệnh đề đúng với x = 1.
+) Với k là một số nguyên dương tuỳ ý mà mệnh đề đúng, ta phải chứng minh mệnh đề cũng đúng với k + 1, tức là: Số tiền nhận được (bao gồm cả vốn lẫn lãi) sau (k + 1) (kì hạn) gửi là Sn=A1+r100mk+1 (đồng).
Thật vậy, theo giả thiết quy nạp ta có:
Số tiền nhận được (bao gồm cả vốn lẫn lãi) sau k (kì hạn) gửi là Sn=A1+r100mk (đồng).
Vì sau mỗi kì hạn, số tiển lãi sẽ được nhập vào vốn ban đầu nên số tiền lại ở kì hạn thứ (k + 1) là: A1+r100mk . r100m (đồng).
Suy ra số tiền nhận được (bao gồm cả vốn lẫn lãi) là:
A1+r100mk +A1+r100mk . r100m
=A1+r100mk 1+r100m=A1+r100mk+1 (đồng).
Vậy mệnh đề cũng đúng với x = k + 1. Do đó theo nguyên lí quy nạp toán học, mệnh đề đã cho đúng với mọi x∈ℕ*.
Sau n (năm) thì số kì hạn người đó đã gửi là: m . n (kì hạn).
Do đó, số tiền nhận được (bao gồm cả vốn lẫn lãi) sau n (năm) gửi là:
Sn=A1+r100mm . n (đồng).