Bài tập Tính xác suất bằng cách sử dụng công thức xác suất toàn phần lớp 12 (có lời giải)

Một đội tuyển thi bắn súng có 10 xạ thủ, bao gồm 4 xạ thủ hạng I và 6 xạ thủ hạng II. Xác suất bắn trúng mục tiêu của xạ thủ hạng I và hạng II lần lượt là 0,75 và 0,6

Giải thích

Xét các biến cố:

A: "Chọn được xạ thủ hạng I";

\(B\) : "Viên đạn đó trúng mục tiêu".

Khi đó, \({\rm{P}}(A) = \frac{4}{{10}} = 0,4;{\rm{P}}(\bar A) = \frac{6}{{10}} = 0,6;{\rm{P}}(B\mid A) = 0,75;{\rm{P}}(B\mid \bar A) = 0,6\).

Sơ đồ hình cây biểu thị tình huống đã cho là:

Một đội tuyển thi bắn súng có 10 xạ thủ, bao gồm 4 xạ thủ hạng I và 6 xạ thủ hạng II. Xác suất bắn trúng mục tiêu của xạ thủ hạng I và hạng II lần lượt là 0,75 và 0,6 (ảnh 1)

Theo công thức xác suất toàn phần, ta có:

\({\rm{P}}(B) = {\rm{P}}(A) \cdot {\rm{P}}(B\mid A) + {\rm{P}}(\bar A) \cdot {\rm{P}}(B\mid \bar A) = 0,4 \cdot 0,75 + 0,6 \cdot 0,6 = 0,66.{\rm{ }}\)

Vậy xác suất để viên đạn đó trúng mục tiêu là 0,66 .