Màu hạt của đậu Hà Lan có hai kiểu hình là vàng và xanh. Có hai gene ứng với hai kiểu hình này allele trội \(A\) và allele lặn a. Hình dạng hạt của đậu Hà Lan có hai kiểu hình là hạt trơn và
Có 4 kiểu gene ứng với màu hạt của cây con là \({\rm{AA}};{\rm{Aa}};{\rm{aA}}\);aa.
Có 4 kiểu gene ứng với hình dạng hạt của cây con là \(BB;Bb;bB;bb\).
Ta liệt kê được tất cả các kết quả có thể của phép thử bằng cách lập bảng sau:
Dạng hạt Màu hạt | \(BB\) | \(Bb\) | \(bB\) | \(bb\) |
\(AA\) | \(\left( {AA;BB} \right)\) | \(\left( {AA;Bb} \right)\) | \(\left( {AA,bB} \right)\) | \[\left( {AA;bb} \right)\] |
\(Aa\) | \(\left( {Aa,BB} \right)\) | \(\left( {Aa,Bb} \right)\) | \(\left( {Aa,bB} \right)\) | \(\left( {Aa;bb} \right)\) |
\(aA\) | \(\left( {aA;BB} \right)\) | \(\left( {aA,Bb} \right)\) | \(\left( {aA,bB} \right)\) | \(\left( {aA,bb} \right)\) |
\(aa\) | \(\left( {aa,BB} \right)\) | \(\left( {aa,Bb} \right)\) | \(\left( {aa,bB} \right)\) | \(\left( {aa,bb} \right)\) |
Mỗi ô là một kết quả có thể. Không gian mấu là tập hợp 16 ô của bảng trên. Như vậy, không gian mẫu của phép thử là \(\Omega = \{ ({\rm{AA}},{\rm{BB}});(AA,Bb);(AA,bB);(AA,bb);(Aa,BB);(Aa,Bb);(Aa,bB);(Aa,bb);(aA,BB);(AA,Bb);(aA,bB);\)
\((aA,bb);(aa,BB);(aa,Bb);(aa,bB);(aa,bb)\} \). Có 16 kết quả có thể là đồng xảy ra.
Gọi \(E\) là biến cố “Cây con có hạt vàng và trơn”.
Cây con có hạt vàng và trơn nếu trong gene màu hạt có ît nhất một allele trội A và trong gene dạng hạt có ít nhất một allele trội B .
Có 9 kết quả thuận lợi cho biến cố \(E\) là (AA, BB); (AA, Bb); (AA, bB); (Aa, B B); (Aa, Bb); (Aa, bB); (aA, BB); (aA, Bb); (aA, bB). Vậy \(P\left( E \right) = \frac{9}{{16}}\).