Màu hạt của đậu Hà Lan có hai kiểu hình là vàng và xanh. Có hai gene ứng với hai kiểu hình này allele trội A và allele lặn a. Hình dạng gạt của đậu Hà Lan có hai kiểu hình: hạt trơn và hạt nh
Ta có bảng sau:
Dạng hạt
Màu hạt | \(BB\) | \(Bb\) | \(bB\) | \(bb\) |
\(AA\) | \(\left( {AA;BB} \right)\) | \(\left( {AA;Bb} \right)\) | \(\left( {AA;bB} \right)\) | \(\left( {AA;bb} \right)\) |
\(Aa\) | \[\left( {Aa;BB} \right)\] | \(\left( {Aa;Bb} \right)\) | \(\left( {Aa;bB} \right)\) | \(\left( {Aa;bb} \right)\) |
Gọi \(E\) là biến cố “cây con có hạt vàng nhăn”. Ta có: \[E = \left\{ {\left( {AA,bb} \right);\left( {Aa;bb} \right)} \right\}\].
Có hai kết quả thuận lợi cho biến cố \(E\).
\(\Omega = \left\{ {\left( {AA,BB} \right);\left( {AA,Bb} \right);\left( {AA;bB} \right);\left( {AA,bb} \right);\left( {Aa,BB} \right);\left( {Aa,Bb} \right);\left( {Aa;bB} \right);\left( {Aa,bb} \right)} \right\}\)
Vậy\({\rm{ }}P\left( E \right) = \frac{{n\left( E \right)}}{{n\left( \Omega \right)}} = \frac{2}{8} = \frac{1}{4}.\)