Làm rõ tính sáng tạo của Hồ Chí Minh trong luận điểm: “Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc”.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc
Xuất phát từ tình hình thực tế ở các nước tư bản phương Tây, C. Mác và Ph. Ăngghen tuy có đề cập đến vấn đề độc lập dân tộc của các nước bị các dân tộc lớn thống trị nhưng chưa có điều kiện bàn về cách mạng giải phóng ở thuộc địa. Các ông cho rằng, một dân tộc đi áp bức dân tộc khác, dân tộc đó không có tự do. Khi giai cấp vô sản ở chính quốc giành được chính quyền thì đương nhiên các dân tộc thuộc địa sẽ được giải phóng. Xuất phát từ lợi ích trực tiếp của giai cấp vô sản các nước Tây Âu, Ph. Ăngghen nêu rõ, phong trào giải phóng dân tộc phải phục tùng mục đích cách mạng vô sản của Tây Âu “Chúng ta phải cùng nhau đấu tranh để giải phóng giai cấp vô sản Tây Âu và bắt tất cả những cái còn lại phải phục tùng mục đích ấy” và “nếu nguyện vọng giải phóng của họ xung đột với lợi ích của giai cấp vô sản, thì tôi hoàn toàn không quan tâm đến họ”. Phải đến khi giai cấp vô sản châu Âu được giải phóng thì nhân dân các nước thuộc địa sẽ trở thành người tự do, thực sự được giải phóng. Như vậy, các ông không đi sâu giải quyết vấn đề dân tộc vì về cơ bản vấn đề dân tộc ở Tây Âu đã được giải quyết trong cách mạng tư sản. Đặc biệt là các ông chưa có điều kiện bàn nhiều về vấn đề dân tộc thuộc địa, vẫn “đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản”. Điều đó hoàn toàn đúng với đòi hỏi của thực tiễn cách mạng vô sản Tây Âu đang đặt ra lúc bấy giờ. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã nhận xét rằng: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Vì vậy, khi vận dụng học thuyết Mác để nghiên cứu phương Đông, nhất là Việt Nam, cần phải xem xét lại cơ sở lịch sử và phải bổ sung vào học thuyết đó những tư liệu lịch sử phương Đông mà ở thời C. Mác không thể có được.
Bước sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc trở thành hệ thống thế giới, cách mạng giải phóng dân tộc trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản, V.I. Lênin mới có cơ sở thực tiễn để phát triển vấn đề dân tộc thuộc địa thành một hệ thống lý luận, được coi là học thuyết về cách mạng thuộc địa. Ông là người đã sớm nhận thấy sức mạnh to lớn của phong trào giải phóng dân tộc và là người đã viết đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Trong Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vân đề dân tộc tộc và vân đề thuộc địa, V.I. Lênin đã nhấn mạnh quan điểm phải kết hợp phong trào giải phóng dân tộc với phong trào cách mạng vô sản ở chính quốc, các nước làm cách mạng vô sản thành công phải giúp đỡ cách mạng ở các nước thuộc địa, nhất là các nước lạc hậu, còn nhiều tàn tích phong kiến. Theo V.I. Lênin, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc sẽ không thể giành được thắng lợi nếu nó không biết liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa. Song, cũng như những người lãnh đạo Quốc tế” Cộng sản lúc bấy giờ, V.I. Lênin đặt cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng vô sản chính quốc, là “hậu bị quân” của cách mạng vô sản chính quôc và cách mạng giải phóng dân tộc chỉ có thể thắng lợi khi cách mạng vô sản chính quôc thắng lợi. Tuyên ngôn thành lập Quốc tế" Cộng sản (tháng 3/1919) viết: “Việc giải phóng các thuộc địa chỉ có thể tiến hành với việc giải phóng giai cấp công nhân ở chính quốc...” và “công nhân và nông dân không chỉ ở Angiêri, Bănggan, mà cả ở Ba Tư hay Ácmêni chỉ có thể được độc lập khi nào công nhân ở Anh và ở Pháp lật đổ Chính phủ “Lôigioóc” và “Clêmăngxô” giành chính quyền về tay mình”. Quan điểm này, vô hình trung đã làm giảm tính chủ động, sáng tạo của phong trào cách mạng ở thuộc địa -> Quan điểm trên của V.I. Lênin và Quốc tế Cộng sản đã được thực tiễn của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga (năm 1917) chứng minh là hoàn toàn đúng đắn. Bởi lẽ, sau khi cách mạng vô sản Nga giành được thắng lợi đã tạo điều kiện để giải phóng các dân tộc vốn là thuộc địa của Nga giành độc lập.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc
Qua hoạt động thực tiễn phong phú, Hồ Chí Minh sớm nhận ra mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc. Đó là mối quan hệ bình đẳng chứ không phải là quan hệ phụ thuộc hay chính - phụ.
Người đã vạch rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản là vừa áp bức, bóc lột giai cấp công nhân chính quốc, vừa đàn áp nhân dân các dân tộc thuộc địa. Do đó, muốn đánh đổ chủ nghĩa đế quốc thì cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc phải phối hợp với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Ngày 16/5/1924, trong bài báo nhan đề Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa, đăng trên báo La Vie Ouvrière, Người nêu rõ: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”. Đối với cách mạng thuộc địa, phải “Làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”. Với tinh thần độc lập, tự chủ, Người đi đến luận điểm: “Công cuộc giải phóng anh em, chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”.
Xuất phát từ sự phân tích quan hệ giai cấp trong xã hội thuộc địa, nhận thức được vai trò, vị trí chiến lược của cách mạng thuộc địa, đánh giá đúng sức mạnh dân tộc, năm 1921, Hồ Chí Minh dự đoán cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quôc. Đây là điểm khác biệt với quan điểm của phong trào cộng sản quốc tế khi cho rằng: “Cách mạng thuộc địa phụ thuộc trực tiếp vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc”. Người khẳng định: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”. Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Hồ Chí Minh viết: “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ. Và nếu công nông Pháp cách mệnh thành công, thì dân tộc An Nam sẽ được tự do” . Để đưa ra được nhận định này, Hồ Chí Minh đã có một sự hiểu biết sâu sắc đất nước, con người, lịch sử và cuộc sống, sự đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa, đặc biệt là của Việt Nam với toàn bộ đặc điểm vốn có của nó.
Quá trình đi tìm đường cứu nước, tìm phương pháp đấu tranh với kẻ thù, Hồ Chí Minh đã đi sâu nghiên cứu các thủ đoạn, tội ác của thực dân Pháp ở Việt Nam. Người dành thời gian đọc rất nhiều nguồn tài liệu từ kho lưu trữ và các thư viện của nước Pháp, kết hợp với việc khảo sát, kiểm nghiệm thực tiễn đời sống của Nhân dân Việt Nam dưới chế độ thực dân. Trên cơ sở ấy, Người viết tác phẩm Bản án chế' độ thực dân Pháp. Với những bằng chứng cụ thể và sát thực, Hồ Chí Minh đã vạch trần sự bưng bít có tính chất hệ thống của thực dân Pháp về tội ác của chúng ở Việt Nam và các nước thuộc địa. Người chỉ ra một cách thuyết phục rằng, thực dân Pháp đã thi hành một chính sách phi kinh tế, thu lợi nhuận tối đa, thực hiện chuyên chế về chính trị, thẳng tay đàn áp, không cho nhân dân Việt Nam được hưởng quyền tự do ngôn luận, tự do dân chủ. Trong bài Đông Dương khổ nhục, Hồ Chí Minh tố cáo: “ở Đông Dương giết người là việc xảy ra hàng ngày... Từ người đại diện tối cao của nhà nước chính quốc đến những tên thực dân bình thường, ai nấy cũng tự ý và đua nhau giết hại, bóc lột đến tận xương tủy dân tộc đã bị chinh phục này... đế quốc Pháp với quân lính của chúng đã coi tính mạng người Đông Dương như cỏ rác, muốn thì chúng tước đoạt của cải, thích thì chúng bắn giết. Nhưng áp bức càng đè nặng lên vai dân chúng bao nhiêu thì dân chúng chống lại càng nhiều bấy nhiêu”. Do đó, “Trong những năm gần đây, dân bản xứ bị bóc lột ngày một thêm tệ nên họ đã chống chủ nghĩa đế quốc quyết liệt”. Điều đó chứng tỏ “bây giờ căm hờn đã sôi sục trong lòng những người nô lệ và từ đây chủ nghĩa đế quốc Pháp không còn có thể bóc lột dân chúng Đông Dương mà không gặp những cuộc đấu tranh một sống một chết” -> Theo Người, chế độ thực dân là tha hóa tàn bạo nhất, là kết quả tất yếu của sự phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nhân dân thuộc địa vừa phải chịu sự nô dịch, đè nén bằng lưỡi lê của nền văn minh, vừa bằng cây thánh giá của giáo hội. Trên thế giới không có dân tộc nào bị đàn áp, hành hạ như người dân thuộc địa. Rõ ràng, vì bị áp bức nặng nề như thế nên người dân thuộc địa, trong đó đông đảo nhất là người lao động, là nông dân, công nhân... đang tiềm ẩn một sự phản kháng mãnh liệt và sẽ bùng nổ khi có thời cơ.
Ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ tiềm năng cách mạng to lớn của các dân tộc bị áp bức và nó sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ khi được giác ngộ và tổ chức. Người viết: “Người châu Á - tuy bị người phương Tây coi là lạc hậu - vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết phải cải cách toàn bộ xã hội hiện tại”. Người dự báo: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ...”.
+ Nghiên cứu tình hình thực tiễn của cách mạng Đông Dương, Người phân tích: “Nói rằng Đông Dương gồm hai mươi triệu người bị bóc lột, hiện nay đã chín muồi cho một cuộc cách mạng là sai, nhưng nói rằng Đông Dương không muốn cách mạng và bằng lòng với chế độ bây giờ như các ông chủ của chúng ta thường vẫn nghĩ như thế, thì lại càng sai hơn nữa”. Người khẳng định: “Bị đầu độc cả về tinh thần và thể xác, bị bịt mồm và bị giam hãm... Không: người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sông, sông mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương... Người Đông Dương không được học, đúng thế, bằng sách vở và bằng diễn văn, nhưng người Đông Dương nhận sự giáo dục bằng cách khác. Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ... Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”. Trên cơ sở nhận thức sức mạnh và tiềm năng to lớn của các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, Hồ Chí Minh đã coi vấn đề thuộc địa và giải phóng các dân tộc khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân là một trong những nội dung cơ bản về chiến lược cách mạng của thời đại. Vì vậy, phải “tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc địa” và phải giúp nhân dân các thuộc địa về tổ chức và đấu tranh.
+ Việc lên án thực dân Pháp không chỉ là một đòn đánh mạnh vào hệ thống chính quyền thuộc địa, mà còn là quá trình tìm tòi con đường đấu tranh, là cơ sở để Hồ Chí Minh khẳng định phải đứng lên đấu tranh giành chính quyền và giải phóng dân tộc. Chính vì vậy, ở các nước thuộc địa nói chung và ở Đông Dương nói riêng đã có sẵn tiền đề cho sự gieo mầm của chủ nghĩa xã hội. Người nói: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”. Có thể nói, đặt trong bối cảnh các dân tộc thuộc địa lúc bấy giờ mới thấy rõ sự sâu sắc trong nhận định này. Nếu như ở các nước chính quốc, giai cấp công nhân và nhân dân lao động trải qua quá trình đấu tranh hàng trăm năm đã phần nào giành được những quyền dân chủ nhất định, dù còn nằm trong khuôn khổ nền dân chủ tư sản, thì ở thuộc địa dưới ách áp bức thực dân hết sức tàn bạo, người dân không có một chút quyền tự do, dân chủ tối thiểu. Vì vậy, tinh thần và ý chí cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động rất cao. Khi xây dựng hệ thống thuộc địa, chủ nghĩa đế quốc đã nghiêm cấm chủ nghĩa cộng sản nhưng lại càng làm cho chủ nghĩa cộng sản được tuyên truyền. Do đó, Hồ Chí Minh nói chủ nghĩa tư bản đã tuyên truyền không công cho chủ nghĩa cộng sản. Đồng thời, các nước đế quốc lại tiến hành công nghiệp hóa dù là cưỡng bức nhưng đã làm thay đổi kết cấu xã hội của các nước thuộc địa, làm xuất hiện giai cấp hiện đại là giai cấp công nhân. Đây chính là tiền đề, điều kiện vật chất để tiếp nhận chủ nghĩa cộng sản. Thế nên, cùng với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, Hồ Chí Minh đã phê phán có hệ thống nền thống trị hà khắc của chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Đông Dương.
Giá trị và ý nghĩa lịch sử của quan điểm trên đã được minh chứng sinh động bằng thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám (1945), hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam. Thực tiễn vận động của phong trào cách mạng thế giới trong những năm giữa thập niên 50 thế kỷ XX càng chứng tỏ rằng, những cống hiến lý luận xuất sắc của Hồ Chí Minh đã kịp thời bổ sung cho kho tàng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời cổ vũ, động viên, dẫn dắt các dân tộc thuộc địa trên thế giới noi theo Việt Nam, đứng lên làm cách mạng giải phóng, giành độc lập dân tộc.
Ý nghĩa của quan điểm đối với cách mạng Việt Nam
Quan niệm của Hồ Chí Minh về tính chủ động, sáng tạo, vượt trước của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa so với cách mạng vô sản ở chính quốc của Hồ Chí Minh là một luận điểm sáng tạo, có giá trị khoa học và có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn rất quan trọng, là cơ sở để Hồ Chí Minh tin tưởng và quyết tâm, tích cực, chủ động tổ chức Nhân dân vùng lên để tự cởi bỏ xiềng xích nô lệ đế" quốc, thực dân. Quan niệm đó đã được thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới trong thế kỷ XX chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.
Đánh giá về giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh và những cống hiến của Người đối với cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc thế giới, Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO)khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”. Tác giả David Halberstam viết: “Lúc sinh thời, ông Hồ Chí Minh không những đã giải phóng đất nước của ông mà thay đổi chiều hướng của chế độ thuộc địa ở cả châu Phi lẫn châu Á, mà ông còn làm được một điều đáng chú ý hơn: ông đã dùng tới nền văn hóa và tâm hồn của kẻ địch của ông. Đối với Hồ Chí Minh... đó là một cuộc đời đầy đủ”. Học giả người Mỹ Wiliam J.Duiker (trong cuốn sách Hồ Chí Minh - một cuộc đời)khẳng định: Sự nghiệp mà ông thúc đẩy và chỉ đạo tạo ra những thời khắc có một không hai trong thế kỷ XX, là đỉnh cao của kỷ nguyên giải phóng dân tộc ở thế giới thứ ba và sự thừa nhận rõ ràng đầu tiên về hạn chế của chính sách ngăn chặn cộng sản của Mỹ. Sau Việt Nam, thế giới không bao giờ như cũ nữa.
Với tư cách là người đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào quá trình “phi thực dân hóa”, làm sụp đổ hoàn toàn chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Tiến sĩ Ahmed, nguyên Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương nhận xét: “Chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại khi còn sống và rõ ràng cụ Hồ Chí Minh là một trong số đó; Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nghị quyết của UNESCO viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.