Hình dưới đây mô tả tương tác giữa các sản phẩm của các gene không allele hình thành màu lông ở chuột.
a) Sai; b) Sai; c) Sai; d) Đúng
Quy ước gene: A-B-: lông lang; aaB-: lông đen; A-bb + aabb: lông bạch tạng.
a) Sai. Nếu cá thể chuột có kiểu gene AaBb thì quy định kiểu hình lông lang.
b) Sai. Cá thể chuột mang hai allele của gene B bị đột biến mất chức năng (bb) sẽ không chuyển hóa được phân tử tiền chất không màu sang sắc tố đen, nên sẽ có màu lông bạch tạng.
c) Sai. Chuột lông đen (aaB-) có thể sinh ra giao tử có mang allele B (aB). Chuột lông bạch tạng có thể có kiểu gene A-bb hoặc aabb. Nếu chuột lông bạch tạng có thể tạo ra giao tử Ab. Khi hai giao tử aB và Ab kết hợp với nhau trong thụ tinh sẽ tạo ra chuột có kiểu gene AaBb biểu hiện thành màu lông lang.
d) Đúng.
- Tổng tỉ lệ kiểu hình ở đời con là 6 + 1 + 1 = 8 = 4 × 2 → Một bên P cho ra 4 loại giao tử (AaBb), bên P còn lại cho ra 2 loại giao tử.
- Vì đời con xuất hiện con lông đen, con lông bạch tạng → Bên P cho 2 loại giao tử có kiểu gene là Aabb hoặc aaBb.
+ Xét P có kiểu gene: AaBb × Aabb → Tỉ lệ kiểu hình ở đời con = (3A- : 1aa) × (1Bb : 1bb) = 3 lông lang (3A-Bb) : 1 lông đen (1aaBb) : 4 lông bạch tạng (3A-bb + 1aabb).
+ Xét P có kiểu gene: AaBb × aaBb → Tỉ lệ kiểu hình ở đời con = (1Aa : 1aa) × (3B- : 1bb) = 3 lông lang (3AaB-) : 3 lông đen (3aaB-) : 2 lông bạch tạng (1Aabb + 1aabb).
Vậy nếu tổng tỉ lệ kiểu hình được tính ở các thế hệ con sinh ra từ một cặp bố mẹ chuột ban đầu là 3 lông lang : 1 lông đen : 4 lông bạch tạng thì P có kiểu gene là AaBb × Aabb.
