Bài tập Tính xác suất bằng cách sử dụng công thức xác suất toàn phần lớp 12 (có lời giải)

Hình dạng hạt của đậu Hà Lan có hai kiểu hình: hạt trơn và hạt nhẵn, có hai gene ứng với hai kiểu hình này là gene trội B và gene lặn b.

Giải thích

a) Gọi A là biến cố: "Cây bố có kiểu gene bb";

K là biến cố: "Cây con nhận gene B từ bố";

H là biến cố: "Cây con nhận gene B từ mẹ";

F là biến cố: "Cây con có kiểu gene BB ".

Theo giả thiết, \(K\) và \(H\) độc lập nên \(P(F) = P(K) \cdot P(H)\).

Ta tính \({\rm{P}}({\rm{K}})\) theo công thức xác suất toàn phần:

\({\rm{P}}({\rm{K}}) = {\rm{P}}({\rm{A}}) \cdot {\rm{P}}({\rm{K}}\mid {\rm{A}}) + {\rm{P}}(\bar A) \cdot {\rm{P}}({\rm{K}}\mid \bar A){\rm{. (1) }}\)

Ta có \({\rm{P}}({\rm{A}}) = 0,4;{\rm{P}}(\bar A) = 0,6\).

\({\rm{P}}({\rm{K}}\mid {\rm{A}})\) là xác suất để cây con nhận gene B từ bố với điều kiện bố có kiểu gene bb.

Vậy \(P(K\mid A) = 0\).

\({\rm{P}}({\rm{K}}\mid \bar A)\) là xác suất để cây con nhận gene B từ bố với điều kiện bố có kiểu gene $B b$.

Vậy \({\rm{P}}({\rm{K}}\mid \bar A) = 0,5\).

Thay vào (2) ta được \(P(K) = 0,4 \cdot 0 + 0,6 \cdot 0,5 = 0,3\).

Tương tự tính được \({\rm{P}}({\rm{H}}) = 0,3\).

Vậy \(P(F) = P(K) \cdot P(H) = 0,3 \cdot 0,3 = 0,09\).

Vậy tỉ lệ cây con có kiểu gene BB là khoảng \(9\% \).

b) Gọi G là biến cố: "Cây con có kiểu gene Bb".

Vì \(\bar G = E \cup F\) và hai biến cố \({\rm{E}},{\rm{F}}\) xung khắc nên

\({\rm{P}}(\bar G) = {\rm{P}}({\rm{E}}) + {\rm{P}}({\rm{F}}) = 0,49 + 0,09 = 0,58\)

Vậy \({\rm{P}}({\rm{G}}) = 1 - {\rm{P}}(\bar G) = 1 - 0,58 = 0,42\).

Vậy tỉ lệ cây con có kiểu gene Bb là khoảng \(42\% \).