31 bài tập Tính xác suất bằng cách sử dụng công thức xác suất toàn phần (có lời giải)

Hình dạng hạt của đậu Hà Lan có hai kiểu hình: hạt trơn và hạt nhăn, có hai gene ứng với hai kiểu hình này là gene trội B và gene lặn b

Giải thích

Gọi \(A\) là biến cố: "Cây bố có kiểu gene bb";

\(M\) là biến cố: "Cây con lấy gene \(b\) từ cây bố";

\(N\) là biến cố: "Cây con lấy gene \(b\) từ cây mẹ";

\(E\) là biến cố: "Cây con có kiểu gene bb".

Theo giả thiết, \(M\) và \(N\) độc lập nên \(P(E) = P(M) \cdot P(N)\).

Tính \(P(M)\) : Ta áp dụng công thức xác suất toàn phần:

\(P(M) = P(A) \cdot P(M\mid A) + P(\bar A) \cdot P(M\mid \bar A).\)

Ta có \(P(A) = 0,4;P(\bar A) = 0,6\).

\(P(M\mid A)\) là xác suất để cây con lấy gene b từ cây bố với điều kiện cây bố có kiểu gene bb.

Do đó \(P(M\mid A) = 1\).

\(P(M\mid \bar A)\) là xác suất để cây con lấy gene \(b\) từ cây bố với điều kiện cây bố có kiểu gene Bb .

Do đó \(P(M\mid \bar A) = \frac{1}{2}\).

Thay vào \({\rm{(}}*{\rm{)}}\) ta được: \(P(M) = 0,4 + 0,3 = 0,7\).

Tương tự tính được \(P(N) = 0,7\).

Vậy \(P(E) = P(M) \cdot P(N) = 0,7 \cdot 0,7 = 0,49\).

Từ kết quả trên suy ra trong một quần thể các cây đậu Hà Lan, mà ở đó tỉ lệ cây bố và cây mẹ mang kiểu gene \({\rm{bb}},{\rm{Bb}}\) tương ứng là \(40\% \) và \(60\% \), thì tỉ lệ cây con có kiểu gene bb là khoảng \(49\% \).