(Ngữ liệu ngoài sgk)Cây đa

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm xúc của em sau khi đọc bài thơ Cây đa của tác giả Trần Đăng Khoa.

11/12

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm xúc của em sau khi đọc bài thơ Cây đa của tác giả Trần Đăng Khoa.

0/3000 ký tự
Giải thích

Gợi ý:

a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

- Viết đúng hình thức đoạn văn (diễn dịch, quy nạp, móc xích…).

- Đảm bảo dung lượng khoảng 200 chữ.

b. Xác định đúng yêu cầu của đoạn văn: nêu cảm xúc về bài thơ Cây đa.

c. Hệ thống ý

* Thân đoạn:

- Nêu cảm xúc về nội dung bài thơ:

+ Lời giới thiệu đầy tự hào về cây đa quê hương: “Làng em có cây đa” và khung cảnh làng quê yên bình, đầy màu sắc tươi sáng: “lá xanh”, “nước bạc”, “lúa vàng”.

+ Yêu mến, ca ngợi cây đa là nơi quy tụ, che chở, nuôi dưỡng sự sống phong phú của thiên nhiên làng quê: “gọi gió đến”, “vẫy chim về”, “nuôi thêm nhiều ve”.

+ Gắn bó, tự hào vì cây đa chứng kiến cuộc sống hằng ngày và cho bóng mát: dưới bóng đa, trâu nằm nghỉ, bò đi về, người nông dân nghỉ ngơi sau giờ làm việc.

- Nêu cảm xúc về nghệ thuật của bài thơ:

+ Thể thơ 5 chữ giản dị, ngắn gọn góp phần thể hiện tình cảm chân thành, mộc mạc của nhân vật trữ tình.

+ Biện pháp nhân hoá đặc sắc khiến hình ảnh cây đa trở nên sinh động, có hồn, gần gũi gắn bó với người dân nông thôn.

+ Từ láy gợi hình gợi cảm: “mênh mông”, “thong thả”, “đủng đỉnh” miêu tả không gian làng quê yên bình.

d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chỉnh, ngữ pháp Tiếng Việt.

e. Sáng tạo: Bố cục rõ ràng, lời văn giàu hình ảnh, cảm xúc.

Đoạn văn tham khảo

Trần Đăng Khoa là nhà thơ nổi tiếng với hồn thơ hồn nhiên, trong trẻo của tuổi thơ. Bài thơ Cây đa đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc và tình cảm tha thiết với quê hương. Ngay từ đầu, tác giả đã giới thiệu đầy tự hào: “Làng em có cây đa”, mở ra một khung cảnh làng quê yên bình, tươi sáng với “lá xanh”, “nước bạc”, “lúa vàng”. Cây đa hiện lên như một chứng nhân của thiên nhiên làng quê, vừa gọi gió, vẫy chim, nuôi ve, vừa chở che cho con người và muôn loài. Hình ảnh trâu thong thả, bò đủng đỉnh, bác nông dân nghỉ ngơi dưới bóng đa khiến em càng cảm nhận rõ cây đa gắn bó mật thiết với cuộc sống thôn quê. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ năm chữ ngắn gọn, giản dị, góp phần làm nổi bật tình cảm mộc mạc, chân thành. Biện pháp nhân hoá đã thổi hồn cho cây đa, khiến nó trở nên sinh động, gần gũi như một người bạn thân thiết. Các từ láy “mênh mông”, “thong thả”, “đủng đỉnh” gợi ra một không gian làng quê khoáng đạt, thanh bình. Đọc bài thơ, em ấn tượng với niềm tự hào, tình yêu tha thiết của tác giả dành cho quê hương, từ đó em cũng thêm yêu và trân trọng những vẻ đẹp giản dị, mộc mạc quanh mình.