Bộ 10 đề thi cuối kì 1 Ngữ Văn 8 Kết nối tri thức cấu trúc mới có đáp án - Đề 3

Hãy viết bài văn phân tích bài thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến ở phần đọc hiểu trên?

6/6

Hãy viết bài văn phân tích bài thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến ở phần đọc hiểu trên?

0/3000 ký tự
Giải thích

a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Có đủ ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài; các ý được sắp xếp theo một trình tự hợp lí.

b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Phân tích bài thơ trào phúng: “Chế học trò ngủ gật” của tác giả Nguyễn Khuyến.

c. Triển khai vấn đề:

Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:

- Xác định được các ý chính của bài viết.

- Sắp xếp được các ý theo bố cục hợp lí ba phần của bài văn nghị luận.

* Mở bài: Giới thiệu tác giả, tên bài thơ và hoàn cảnh ra đời (nếu có),…

* Thân bài: Tùy theo phương án lựa chọn, có thể trình bày phần Thân bài theo một hệ thống tương ứng (Phân tích theo hai phương diện nội dung và nghệ thuật):

Ý 1: Phân tích nội dung bài thơ:

+ Hai câu thơ đầu: Bài thơ bắt đầu bằng việc miêu tả cảnh lớp học đầy sôi nổi, giáo viên đang giảng bài. Câu thơ: “Trò trẹt chi bay học cạnh thầy” gợi cảnh lớp học vui tươi. Câu thơ “Gật gà gật gưỡng nực cười thay” là hình ảnh cậu học trò ngủ gật. “Gật gà gật gưỡng” ý muốn nói đến trạng thái mơ ngủ, không tỉnh táo khi học bài. Hình ảnh thơ với những từ ngữ hài hước, hóm hỉnh mang đến những điệu cười khoái chí cho người đọc.

+ Các câu thơ tiếp:

“Giọng khê nồng nặc không ra tiếng,

Mắt lại lim dim nhắp đã cay.

Đồng nổi đâu đây la liệt đảo,

Ma men chi đấy tít mù say”.

Gợi các trạng thái ngủ nực cười của cậu học trò. Các từ láy “nồng nặc”, “lim dim”, “la liệt” miêu tả trạng thái mệt mỏi và buồn ngủ của cậu học trò; biện pháp nói quá trong những dòng thơ trên làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ, khiến bài thơ hóm hỉnh, khôi hài đúng như phong cách sáng tác của Nguyễn Khuyến.

+ Hai câu thơ cuối thể hiện rõ cách trốn học của học trò. Nhà thơ mặc dù không hài lòng với ý thức học tập của cậu học trò, thế nhưng ông không trách phạt mà nhắc nhở nhẹ nhàng, hết sức tinh tế.

Ý 2: Phân tích nét đặc sắc về nghệ thuật:

Ngôn ngữ hài hước, hình ảnh linh hoạt gần gũi, kết hợp với việc sử dụng các từ láy, biện pháp tu từ…Nguyễn Khuyến đã mang đến tiếng cười hài hước, châm biếm cho độc giả.

* Kết bài: Khái quát ý nghĩa của tiếng cười trào phúng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

d. Chính tả, ngữ pháp:

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt.

e. Sáng tạo:

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo.