Hãy giải thích các trường hợp sau: a) Để bảo vệ vỏ tàu biển làm bằng thép, người ta gắn chặt
a) Đây là cách chống ăn mòn bằng phương pháp điện hoá, khi Zn và Fe cùng tiếp xúc với nước biển (dung dịch điện li), Zn sẽ bị ăn mòn trước và bảo vệ cho thành vỏ tàu.
b) Không khí ẩm hoà tan CO2, SO2, H2S, ... tạo nên dung dịch điện li (H+) đọng trên chỗ tiếp xúc của hai kim loại tạo ra cặp pin, dẫn đến sự ăn mòn điện hoá xảy ra làm cho điểm nối dễ bị bong ra.
c) Vật làm bằng sắt tây bị ăn mòn nhanh hơn vật làm bằng tôn vì:
– Sắt tây là sắt tráng thiếc. Trong không khí ẩm, sắt đóng vai trò là cực âm và bị ăn mòn.
– Tôn là sắt tráng kẽm. Trong không khí ẩm, kẽm đóng vai trò là cực âm và bị ăn mòn. Khi kẽm bị ăn mòn hết thì sắt sẽ tiếp tục bị ăn mòn.
d) Phương trình hoá học của phản ứng thêm một ít dung dịch CuSO4 vào dung dịch acid khi điều chế hydrogen từ kẽm và dung dịch H2SO4 :
Zn + CuSO4 → ZnSO4 + Cu
Đồng tạo ra bám vào kẽm, hai kim loại cùng tiếp xúc với dung dịch acid, tạo ra rất nhiều cặp pin điện hoá, kẽm bị ăn mòn điện hoá tan rất nhanh và H2 thoát ra nhanh.
e) Khi bề mặt của vật làm bằng hợp kim sắt tiếp xúc nước muối hoặc nước chanh (là những dung dịch chất điện li mạnh), tạo điều kiện cho quá trình ăn mòn điện hoá xảy ra nhanh.