Hãy chỉ ra các giai đoạn thể hiện bước tiến trong nhận thức, những dấu mốc cơ bản trong quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh?
Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh được trải qua 5 giai đoạn:
Giai đoạn trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước.
Giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
Giai đoạn từ năm 1921 đến năm 1930: Hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam.
Giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945: Vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lập trường cách mạng.
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, hoàn thiện.
Những bước tiến trong nhận thức, những dấu mốc cơ bản trong quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong các giai đoạn sau:
A) Giai đoạn trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước
Xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước, Nguyễn Tất Thành đã được tiếp nhận truyền thống yêu nước, nhân nghĩa của dân tộc; hấp thụ vốn văn hóa Quốc học, Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây; chứng kiến cuộc sống khổ cực, điêu đứng của nhân dân và tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh đã để lại trong Người những ấn tượng sâu sắc, nung nấu lòng căm thù và thôi thúc Người đi tìm đường cứu nước. Hành trang ra đi của Nguyễn Tất Thành là tri thức ban đầu rất quan trọng về văn hóa Đông, Tây và lòng yêu nước nhiệt thành với chí hướng rõ rệt trên cơ sở phê phán các con đường cứu nước của các nhà yêu nước trước đó. Nhờ thế, Người đã tìm được hướng đi đúng, đích đi đúng, cách đi đúng để sớm đi tới thành công.
B) Giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc
Ngày 05/6/1911, Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba đã lên tàu Latouche Trévilles để ra đi tìm đường cứu nước. Thời kỳ này, Nguyễn Tất Thành đã bôn ba khắp các châu lục để tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới và khảo sát cuộc sống của nhân dân các dân tộc bị áp bức.
Năm 1911, Người đến Pháp, tiếp đó sống ở Mỹ từ năm 1912 đến năm 1913, sống ở Anh từ năm 1913 đến năm 1917, cuối năm 1917 Người trở về Pháp. Cuộc hành trình đã giúp Người nhận ra cội nguồn mọi sự đau khổ của nhân loại ở ngay những nước chính quốc.
Năm 1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam ở Pháp, Người gửi đến Hội nghị Vécxây bản Yêu sách của nhân dân An Nam để đòi quyền tự do, dân chủ, bình đẳng cho các dân tộc. Bản yêu sách tuy không được chấp nhận nhưng nó giúp Người hiểu được rằng, muốn được giải phóng không thể bằng con đường thương lượng, đàm phán mà phải bằng con đường khác.
Tháng 7/1920 được tiếp xúc với Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Việc tiếp xúc với Luận cương của V.I. Lênin đã tạo ra bước ngoặt căn bản trong tư duy Hồ Chí Minh về mọi vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, đã giải đáp trúng điều trăn trở, tìm kiếm của Hồ Chí Minh. Người đã tìm thấy ở đó câu Đáp án: bức thiết nhất cho cả dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX là: Làm thế nào có thể giành được độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho mỗi người?
Tháng 12/1920, tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tua, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế Cộng sản và đây cũng là sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Đây là sự kiện đánh dấu bước chuyển về chất trong tư tưởng của Người: từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin, lựa chọn con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản. Như vậy, thời kỳ này Hồ Chí Minh đã có sự chuyển biến vượt bậc về tư tưởng, từ giác ngộ chủ nghĩa dân tộc tiến lên thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, từ một chiến sĩ chống thực dân trở thành một chiến sĩ cộng sản.
C) Giai đoạn từ năm 1921 đến năm 1930: Hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam
Đây là thời kỳ hoạt động thực tiễn và lý luận cực kỳ sôi nổi và phong phú của Nguyễn Ái Quốc trên đất Pháp (1921 - 1923), Liên Xô (1923 - 1924), Trung Quốc (1924 - 1927), Thái Lan (1928 - 1929). Trong khoảng thời gian này, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã được hình thành về cơ bản.
Hoạt động thực tiễn:
Trong thời gian sống ở Pháp (1921 - 1923), Nguyễn Ái Quốc hoạt động với cương vị là Trưởng tiểu ban Đông Dương trong Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa, xuất bản tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) nhằm tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin vào các nước thuộc điạ.
Giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc sang Mátxcơva dự Hội nghị Quốc tế Nông dân và được bầu vào đoàn chủ tịch của Hội. Sau đó Người tiếp tục tham dự các đại hội quốc tế cộng sản lần thứ V và các đại hội quần chúng khác: Quốc tế Thanh niên, Quốc tế Công hội đỏ và được học lớp bồi dưỡng tại trường Đại học Phương Đông.
Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ra báo Thanh niên, mở lớp đào tạo, huấn luyện cán bộ chính trị đưa về nước hoạt động.
Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản trong nước thành Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp soạn thảo Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hoạt động lý luận:
Những bài viết của Hồ Chí Minh trong thời kỳ này như: Bản án chế độ thực dân Pháp (năm 1925), những bài viết trên báo chí của Đảng Cộng sản Pháp, cuốn Đường cách mệnh (năm 1927) đã thể hiện những quan điểm lớn, độc đáo, sáng tạo về con đường cách mạng Việt Nam, có thể tóm tắt như sau:
Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải đi theo con đường cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nhân dân lao động, giải phóng giai cấp công nhân, phải kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có quan hệ mật thiết với nhau. Cách mạng thuộc địa không lệ thuộc vào cách mạng chính quốc mà có tính chủ động, độc lập. Cách mạng thuộc địa có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng ở chính quốc và giúp cho cách mạng ở chính quốc trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn.
Cách mạng thuộc địa trước hết là “dân tộc cách mệnh” đánh đuổi thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập, tự do. Giải phóng dân tộc là việc chung của cả dân chúng; phải tập hợp lực lượng dân tộc thành một sức mạnh to lớn để chống đế quốc và tay sai. Phải đoàn kết và liên minh với các lực lượng đế quốc, song phải nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, không được ỷ lại chờ đợi ở sự giúp đỡ của quốc tế.
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, của cả dân tộc. Phải tổ chức quần chúng, lãnh đạo và tổ chức đấu tranh bằng các hình thức và khẩu hiệu thích hợp.
Phương pháp đấu tranh để giành chính quyền là sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng và có thể bằng phương pháp khởi nghĩa dân tộc. Cách mạng muốn thành công trước hết phải có đảng cách mạng lãnh đạo, vận động và tổ chức quần chúng đấu tranh.
Như vậy, toàn bộ con đường của cách mạng Việt Nam đã được thể hiện khá rõ trong giai đoạn này. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng đã kết hợp nghiên cứu xây dựng lý luận với tuyên truyền tư tưởng giải phóng dân tộc, vận động tổ chức quần
chúng đấu tranh, xây dựng tổ chức cách mạng, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của Hồ Chí Minh trong những năm 20 của thế kỷ XX được truyền bá vào Việt Nam, làm cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp ở Việt Nam trở thành một phong trào tự giác, dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930, thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
D) Giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945: Vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lập trường cách mạng Tư tưởng của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam thể hiện trong Hội nghị thành lập Đảng bị quan điểm tả khuynh trong Quốc tế Cộng sản (Đại hội VI) phê phán. Theo chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, Trần Phú về triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (tháng 10/1930) phê phán quan điểm của Nguyễn Ái Quốc ở Hội nghị thành lập Đảng và ra quyết định thủ tiêu Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng..., đặc biệt là ở việc xác định lực lượng, bước đi, phương thức tiến hành cách mạng, đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương.
Trên cơ sở xác định chính xác con đường cần phải đi của cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã kiên trì bảo vệ quan điểm của mình về vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa và cách mạng vô sản, chống lại những biểu hiện tả khuynh và biệt phái trong Đảng.
Trước tình hình thế giới mới (chủ nghĩa phát xít, nguy cơ chiến tranh thế giới), Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (năm 1935) đã nhìn nhận một loạt vấn đề cơ bản của phong trào cách mạng thế giới, bắt đầu từ việc tự phê bình về khuynh hướng “tả”, cô độc biệt phái, bỏ rơi ngọn cờ dân tộc và dân chủ đến chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, chủ trương thành lập mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, đòi quyền dân sinh, dân chủ. Chính vì vậy, tháng 9/1938, Nguyễn Ái Quốc nhận được quyết định điều động về mặt trận Đông Dương để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.
Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp chỉ đạo Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa I (tháng 5/1941), đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, tạm gác lại khẩu hiệu cách mạng điền địa, xoá bỏ vấn đề Liên bang Đông Dương, lập ra Mặt trận Việt Minh, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, đưa tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đó cũng là thắng lợi đầu tiên của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Như vậy, trong thời gian này, Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng cương lĩnh, định ra đường lối cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản, tổ chức quần chúng đấu tranh. Trong mấy năm đầu của những năm 30, Người kiên trì giữ vững quan điểm cách mạng của mình, vượt qua khuynh hướng “tả” đang chi phối Quốc tế Cộng sản, chi phối Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phát triển thành chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, xác lập tư tưởng độc lập, tự do dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Đ) Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển và hoàn thiện
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, dân tộcViệt Nam bị buộc phải đối đầu với hai đế quốc to là Pháp và Mỹ.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, với đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội và đại đoàn kết toàn dân, với phương châm kháng chiến gắn liền với kiến quốc (trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954) và tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vừa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc những năm 1954 - 1969; với sự giúp đỡ của bạn bè thế giới, Nhân dân Việt Nam chẳng những đã đánh thắng bọn đế quốc xâm lược, mà còn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm cơ sở cho sự nghiệp thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Trong hoàn cảnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được bổ sung, phát triển và hoàn thiện trên một loạt vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam như: đường lối vừa kháng chiến, vừa kiến quốc; đường lối chiến tranh nhân dân “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình làchính”; xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến quá độ lên chủ nghĩa xã hội không trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa trong điều kiện đất nước bị chia cắt và có chiến tranh; về vấn đề xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền...