Gói làm nóng thức ăn (FRH: Flameless Ration Heater) được phát minh nhằm hâm nóng các bữa ăn tiện lợi cho người lính trên chiến trường. Một số gói lẩu tự sôi cũng sử dụng công nghệ này
a) Mg (s) + 2H2O (l) → Mg(OH)2 (s) + H2 (g) (1)
ΔrH2980=−928,4−−285,8=−642,6 kJ
nMg= \(\frac{{8.\frac{{90}}{{100}}}}{{24}}\)= 0,3 mol → Q tỏa= 0,3.642,6 = 192,78 kJ
Để làm nóng 300 g súp từ 30 oC lên 100 oC:
\[{Q_{thu}} = \frac{{300.\left( {100 - 30} \right).4,2}}{{1000}} = {\rm{ }}88,2{\rm{ }}kJ\]
Vì thất thoát nhiệt 50% nên thực tế Q cần = 88,2.2= 176,4 kJ
So sánh Q tỏa > Q cần nên gói FRH trên đủ làm nóng 300 g súp từ 30 oC lên 100 oC.
b) Magnesium phản ứng chậm với nước ở nhiệt độ thường do các bọt khí hydrogen bám trên bề mặt magnesium ngăn cản magnesium tiếp xúc với nước. Trong gói FRH, magnesium lại có thể phản ứng nhanh chóng với nước do có mặt Fe tạo thành pin Galvani (trong dung dịch chất điện li NaCl). Khi đó, hydrogen thoát ra trên bề mặt Fe nên diện tích tiếp xúc của Mg với nước tăng lên.
c) Nếu dùng lượng nước nhiều hơn 30 mL thì nhiệt tỏa ra cần cung cấp cho lượng nước dư nóng lên nên nhiệt độ của đồ ăn giảm đi, giảm hiệu quả đun nóng của gọi FRH.