Để xác định hàm lượng sắt trong một mẫu quặng, người ta chuyển 1,795 gam mẫu quặng này thành dung dịch, sau đó khi toàn bộ sắt trong dung dịch thành dạng Fe(II) và thêm nước cất để pha thành 250,0 mL dung dịch. Chuẩn độ 20,00 mL dung dịch thu được bằng dung dịch K2Cr2O7 0,0100 M trong môi trường acid H2SO4 loãng dư thì dùng hết 18,60 mL dung dịch K2Cr2O7. Biết trong phản ứng chuẩn độ trên, Cr2O72- bị khử về Cr3+ theo phương trình sau:
\[C{r_2}{O_7}^{2 - } + 14{H^ + } + 6e \to 2C{r^{3 + }} + 7{H_2}O\]
Phần trăm khối lượng sắt trong mẫu quặng trên là bao nhiêu? (Bỏ qua ảnh hưởng của tạp chất. Làm tròn kết quả đến hàng phần trăm).