Chứng minh với mọi n thuộc N*, (1 + căn bậc hai 2)^n, (1 - căn bậc hai 2)^n lần lượt viết
+) Khi n = 1, ta có:
(1+2)1=1+2=1+1 . 2⇒ a1 = 1, b1 = 1.
Vậy mệnh đề đúng với n = 1.
+) Với k là một số nguyên dương tuỳ ý mà mệnh đề đúng, ta phải chứng minh mệnh đề cũng đúng với k + 1, tức là: (1+2)k+1 viết được dưới dạng ak+1+bk+12, trong đó ak + 1, bk + 1 là các số nguyên dương.
Thật vậy, theo giả thiết quy nạp ta có:
(1+2)k=ak+bk2, vớiak, bk là các số nguyên dương.
Khi đó:
(1+2)k+1=(1+2)k1+2
=ak+bk21+2
=ak . 1+bk2 . 1+ak . 2+bk2.2
=ak+bk2+ak2+2bk
=ak+2bk+ak+bk2.
Vì ak, bk là các số nguyên dương nên ak + 2bk và ak + bk cũng là các số nguyên dương.
Vậy mệnh đề cũng đúng với n = k + 1. Do đó theo nguyên lí quy nạp toán học, mệnh đề đã cho đúng với mọi n ∈ ℕ*.
+) Theo chứng minh trên ta có:
Với mọi n ∈ ℕ* thì (1+2)n=an−bn2 với an, bn là các số nguyên dương.
Chứng minh tương tự ta được:
Với mọi n ∈ ℕ* thì (1−2)n=cn−dn2với cn, dn là các số nguyên dương.
Giờ ta chứng minh an = cn và bn = dn với mọi n ∈ ℕ*.
Ta có: (1+2)n1−2n=1+21−2n=−1n
⇒an+bn2cn−dn2=−1n
⇒ancn−2bndn+bncn−andn2=−1n
⇒ancn−2bndn=−1n 1bncn−andn=0 2.
Từ (2) ta suy ra andn=bncn⇒ancn=bndn=k với k > 0 (vì an, bn, cn, dn là các số nguyên dương)
⇒an=kcn, bn=kdn. Thế vào (1) ta được:
kcncn−2kdndn=−1n⇒kcn2−2dn2=−1n
⇒1 ⋮ k⇒k=1⇒an = cn và bn = dn.
Vậy ta có điều phải chứng minh.