100 câu bài tập Tư tưởng Hồ Chí Minh (có đáp án) - Phần 1

Chứng minh sự ra đời của tư tưởng Hồ Chí Minh là một tất yếu khách quan?

Giải thích

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, ra đời do yêu cầu khách quan và là sự giải đáp những nhu cầu bức thiết do cách mạng Việt Nam đặt ra từ đầu thế kỷ XX đến nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành dưới tác động, ảnh hưởng của những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể ở trong nước và thế giới lúc Người đang sống và hoạt động. Hồ Chí Minh đã nắm bắt chính xác xu hướng phát triển của thời đại để tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc mình.

Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng vào bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng chính thức xâm lược Việt Nam. Ngày 06/6/1884, triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Patơnốt chịu sự bảo hộ của Pháp. Việt Nam từ một xã hội phong kiến độc lập trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Sau khi đánh chiếm được Việt Nam, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành những cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa.

Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất đến năm 1914 và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), chúng tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1929) ở Đông Dương với số vốn đầu tư trên quy mô lớn, tốc độ nhanh. Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hình kinh tế Việt Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới. Nhưng thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào Việt Nam mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến. Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch. Chính vì thế, Việt Nam không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh tế bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp.

Ngay khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, các phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp bùng lên rầm rộ và lan rộng trong cả nước. Mặc dù các cuộc khởi nghĩa của nhân dân diễn ra sôi nổi nhưng vẫn thất bại vì chưa có đường lối kháng
chiến rõ ràng, chưa lôi kéo được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia và chưa gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Điển hình là các phong trào của Trương Định (1859 - 1864), Nguyễn Trung Trực (1861 - 1868)... ở Nam Bộ; Trần Tấn, Đặng Như Mai (1874), Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng (1885 - 1896)... ở miền Trung; phong trào của Nguyễn Thiện Thuật (1883 - 1892), Nguyễn Quang Bích (1885 - 1892), cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám (1885 - 1913)... ở miền Bắc.

Đầu thế kỷ XX, trước sự ảnh hưởng của các cuộc vận động cải cách ở Trung Quốc của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, gương Duy Tân của Nhật Bản, cuộc vận động hiến pháp (năm 1898), cách mạng Tân Hợi (năm 1911) ở Trung Quốc...
tràn vào Việt Nam, phong trào chống Pháp của Nhân dân Việt Nam chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản với sự xuất hiện của các phong trào như: Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân, Việt Nam Quang phục hội... nhưng các phong trào này cũng chỉ rộ lên một thời gian ngắn rồi bị dập tắt.

-> Việt Nam rơi vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước. Điều đó đặt ra yêu cầu bức xúc là phải tìm con đường cứu nước mới đúng đắn cho dân tộc -> Trước hoàn cảnh ấy, Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. Người nói: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”.

Tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây phát triển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền hay còn gọi là chủ nghĩa đế quốc và trở thành hệ thống thế giới. Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường. Đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới những cuộc chiến tranh xâm lược các quốc gia phong kiến phương Đông, biến các quốc gia này thành thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu, khai thác sức lao động và xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc. Sự áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc càng tăng thì mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa với các nước đế quốc, thực dân càng gay gắt, sự phản ứng của nhân dân các nước thuộc địa càng quyết liệt. Do vậy, cùng với mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản (mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và vô sản), chủ nghĩa đế quốc ra đời làm nảy sinh một mâu thuẫn mới đó là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc với các dân tộc thuộc địa. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa ngày càng phát triển nhưng chưa nơi nào giành được thắng lợi. Vấn đề dân tộc thuộc địa được đặt ra, đấu tranh giải phóng dân tộc trở thành phong trào rộng lớn và gắn liền với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế.

Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Đối với nước Nga, đó là cuộc cách mạng vô sản, nhưng đối với các dân tộc thuộc địa trong đế quốc Nga thì đó còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Bởi vì, trước cách mạng nước Nga là nhà tù của các dân tộc. Cuộc cách mạng vô sản Nga thành công, các dân tộc thuộc địa của đế quốc Nga được giải phóng và được hưởng quyền dân tộc tự quyết, hình thành nên các quốc gia độc lập, dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết (năm 1922). Cách mạng Tháng Mười đã nêu tấm gương sáng về sự giải phóng dân tộc bị áp bức, đã mở ra thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc. Nó làm cho phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc.

Quốc tế Cộng sản, tức Quốc tế III - Bộ tham mưu của cách mạng vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới ra đời ở Mátxcơva ngày 02/3/1919. Dưới sự lãnh đạo của V.I. Lênin, Quốc tế III đã kế thừa và phát huy mạnh mẽ truyền thống
cách mạng của Quốc tế I do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập năm 1864, cũng như Quốc tế II trong thời kỳ đầu dưới sự lãnh đạo của Ph. Ăngghen từ năm 1889 đến năm 1895. Quốc tế III đã đẩy mạnh việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh
nghiệm Cách mạng Tháng Mười Nga ra khắp thế giới, đã tạo ra sự phân hoá đối với các đảng xã hội dân chủ, xuất hiện xu hướng gia nhập Quốc tế Cộng sản và thành lập các đảng cộng sản trên thế giới -> Đêm kết thúc Đại hội Tua ngày 30/12/1920 đã đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc: từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin, Người tìm thấy con đường giải phóng dân tộc là theo con đường cách mạng vô sản.

Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh

Vào đầu thế kỷ XX đã có hàng trăm người Việt Nam sang Pháp. Cũng đã có nhiều người Việt Nam tham gia Đảng Xã hội Pháp. Thế nhưng trong số những người Việt Nam yêu nước sống ở Pháp vào năm 1920 duy nhất có Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản và cũng là một người dân thuộc địa tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp.

Có thể nói, trước Đại hội Tua, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp cận gần kề với chân lý của V.I. Lênin, Người suy nghĩ về những vấn đề mà V.I. Lênin đã viết, tuy chưa rõ ràng và sáng tỏ. Đến khi đọc được Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Người đã tìm thấy con đường chân chính cho sự
nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc.

-> Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ giữa trí tuệ lớn của Hồ Chí Minh với trí tuệ của dân tộc và trí tuệ thời đại. Chính sự vận động, phát triển của tư tưởng yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến những năm 20 của thế kỷ XX, khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin đã hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ tiếp thu, vận dụng sáng tạo, Hồ Chí Minh từng bước góp phần bổ sung, phát triển, làm phong phú chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những luận điểm mới, được rút ra từ thực tiễn Việt Nam.

Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã xác định chủ nghĩa Mác - Lênin là cốt, là gốc, là nền tảng tư tưởng của Đảng. Đến Đại hội Đảng lần thứ VII (1991), Đảng ta khẳng định rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Luận điểm này đã tiếp tục được khẳng định trong các văn kiện qua các kỳ đại hội của Đảng. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII nêu rõ: “Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn”.

Thực tiễn quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và nhân dân ta luôn chủ động, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự thành công của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nhất là những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của 35 năm đổi mới vừa qua đã làm cho quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.