Cho tam giác ABC có ba góc nhọn nội tiếp đường tròn (O), kẻ đường cao BE của tam giác ABC với E thuộc cạnh AC. Gọi H và K lần lượt là chân các đường vuông góc hạ từ E đến AB và BC. a) Chứng

a) Vì \(EH \bot AB\) tại \(H\) nên \(\widehat {BHE} = 90^\circ \).
Vì \(EK \bot BC\) tại \(K\), nên \(\widehat {BKE} = 90^\circ \).
Xét tứ giác \(BHEK\) có \(\widehat {BHE} = \widehat {BKE} = 90^\circ \) nên hai điểm \(H,\,\,K\) cùng nằm trên đường tròn đường kính \(BE\).
Do đó, tứ giác \(BHEK\) là tứ giác nội tiếp đường tròn đường kính \(BE\).
b) ¬ Chứng minh \(B{E^2} = BK \cdot BC\)
Xét tam giác \(\Delta BEC\) vuông tại \(E\) và \(\Delta BKE\) vuông tại \(K\) có \(\widehat B\) là góc chung
Do đó (g.g).
Suy ra \(\frac{{BE}}{{BK}} = \frac{{BC}}{{BE}}\) nên \(B{E^2} = BK \cdot BC\).
¬ Chứng minh ba điểm \(H,M,K\) thẳng hàng:
Chứng minh tương tự, ta có \(B{E^2} = BH \cdot AB\).
Suy ra \(BH \cdot AB = BK \cdot BC\) nên \(\frac{{BH}}{{BC}} = \frac{{BK}}{{AB}}\).
Xét \(\Delta BHK\) và \(\Delta BCA\) có \(\widehat {ABC}\) chung và \(\frac{{BH}}{{BC}} = \frac{{BK}}{{AB}}\).
Do đó (c.g.c). Suy ra \(\widehat {BHK} = \widehat {BCA}\). (1)
Mặt khác, chứng minh tương tự ý a), ta có tứ giác \(BCEQ\) nội tiếp đường tròn đường kính \(BC.\)
Suy ra \[\widehat {EQB} + \widehat {BCE} = 180^\circ \] (tổng hai góc đối)
Mà \[\widehat {AQE} + \widehat {EQB} = 180^\circ \] (kề bù) nên \(\widehat {AQE} = \widehat {BCA}\). (2)
Từ (1) và (2) ta có \(\widehat {BHK} = \widehat {AQE}\,\,\left( { = \widehat {BCA}} \right)\) hay \(\widehat {QHK} = \widehat {HQM}.\) (3)
Xét \(\Delta EHQ\) vuông tại \(H\) có \(M\) là trung điểm của cạnh huyền \(EQ\). Theo tính chất đường trung tuyến ứng với cạnh huyền trong tam giác vuông, ta có \(HM = \frac{1}{2}QE = MQ = ME\)
Suy ra \(\Delta MQH\) cân tại \(M\) nên \(\widehat {QHM} = \widehat {HQM}.\) (4)
Từ (3) và (4) suy ra \(\widehat {QHK} = \widehat {QHM}\) hay hai tia \(HM\) và \(HK\) phải trùng nhau, do đó ba điểm \(H,M,K\) thẳng hàng.