Cho Δ A B C cân tại A , vẽ hai đường cao B E và C F cắt nhau tại H . Gọi I , K lần lượt là hai điểm trên B H , C H sao cho H I = H E , H K = H F . Gọi M là trung điểm của A
Đáp án đúng là: C

Xét \[\Delta ABC\] cân tại \[A\] có hai đường cao \[BE\] và \[CF\] cắt nhau tại \[H\] nên \[H\] là trực tâm của \[\Delta ABC.\]
Khi đó \[AH\] là đường cao thứ ba của \[\Delta ABC.\]
Mà \[\Delta ABC\] cân tại \[A\] nên đường cao \[AH\] cũng là đường phân giác của \[\Delta ABC.\]
Xét \[\Delta AFH\] và \[\Delta AEH,\] có:
\[\widehat {AFH} = \widehat {AEH} = 90^\circ ;\]
\[AH\] là cạnh chung;
\[\widehat {FAH} = \widehat {EAH}\] (do \[AH\] là đường phân giác của \[\widehat {FAE}\]).
Do đó \[\Delta AFH = \Delta AEH\] (cạnh huyền – góc nhọn)
Suy ra \[HF = HE\] (cặp cạnh tương ứng).
Mà \[HI = HE,\,\,HK = HF\] nên \[HE = HI = HF = HK.\]
Vậy bốn điểm \[E,F,I,K\] cùng nằm trên đường tròn tâm \[H\] bán kính \[HE.\]
Tam giác \[AEH\] vuông tại \[E\] có \[EM\] là đường trung tuyến ứng với cạnh huyền \(AH\) nên \(EM = MA = MH = \frac{1}{2}AH\).
Do đó tam giác \[HME\] cân tại \[M.\]
Để điểm \[M\] thuộc đường tròn đi qua bốn điểm \[E,F,I,K\] thì \[HM = HE.\]
Mà tam giác \[HME\] cân tại \[M\] nên lúc này, tam giác \[HME\] là tam giác đều.
Suy ra \[\widehat {MHE} = 60^\circ .\]
Tam giác \[AEH\] vuông tại \[E\] có \[\widehat {AHE} + \widehat {HAE} = 90^\circ \]
Suy ra \[\widehat {HAE} = 90^\circ - \widehat {AHE} = 90^\circ - 60^\circ = 30^\circ .\]
Lại có \[AH\] là đường phân giác của \[\Delta ABC\] nên \[\widehat {BAC} = 2\widehat {HAE} = 2 \cdot 30^\circ = 60^\circ .\]
Khi này, \[\Delta ABC\] cân tại \[A\] có \[\widehat {BAC} = 60^\circ \] nên \[\Delta ABC\] là tam giác đều.
Vậy \[\Delta ABC\] đều thì điểm \[M\] thuộc đường tròn đi qua bốn điểm \[E,F,I,K.\]
Do đó ta chọn phương án C.