Các trình tự một operon ở vi khuẩn E.coli nằm trong đoạn NST được kí hiệu từ A đến E. Để xác định các trình tự của opêron này, người ta sử dụng 5 trường hợp đột biến mất đoạn như hình bên
Giải thích
Chọn A
Thể đột biến 2 và 3 bị mất trình tự thuộc đoạn BC làm cho cácgene cấu trúc luôn không được phiên mã -> đoạn BC chứa vùng khời động. Khi vùng khởi động bị mất thì RNA polymerase không thể bám vào DNA để tiến hành phiên mã.
Thể đột biến 4 và 5 bị mất trình tự thuộc đoạn DE làm cho các gene cấu trúc luôn được phiên mã -> đoạn DE chứa vùng vận hành. Khi vùng vận hành bị mất thì protein ức chế không thể bám vào -> RNA polymerase không bị ức chế nên có thể bám vào promoter để phiên mã liên tục.
