Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích văn bản ngữ liệu “Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng.
Gợi ý:
- Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng
+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.
+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích văn bản ngữ liệu “Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
* Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Huy Tưởng: nhà văn hiện thực xuất sắc, quan tâm đến lịch sử và thân phận con người.
- Giới thiệu vở kịch Vũ Như Tô: khắc họa bi kịch của người nghệ sĩ tài hoa trước hiện thực xã hội phong kiến.
- Dẫn vào đoạn trích: cuộc gặp gỡ giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm thể hiện rõ bi kịch cá nhân và tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm.
* Thân bài:
1. Khái quát nội dung đoạn trích
- Bối cảnh: Triều Lê suy tàn, vua Lê Tương Dực hôn ám, nhân dân lầm than.
- Vũ Như Tô bị bắt về kinh, dự định xử tội, gặp Đan Thiềm – cung nữ tri âm, từ đó mở ra câu chuyện về khát vọng và bi kịch của người nghệ sĩ.
2. Phân tích nhân vật Vũ Như Tô
- Con người tài hoa: có khiếu về kiến trúc, khát khao xây dựng Cửu Trùng Đài – công trình nghệ thuật vĩ đại cho dân tộc.
- Bi kịch cá nhân:
+ Bị xã hội phong kiến khắt khe, bạc đãi, giam hãm tài năng.
+ Mang nặng nỗi đau mất mát gia đình, bị đánh đập, tù đày.
- Tâm trạng phức tạp trong đoạn trích: từ uất ức, chán chường → được Đan Thiềm khích lệ → bừng tỉnh khát vọng sáng tạo.
→ Qua đó, tác giả ca ngợi tài năng, khát vọng cống hiến nhưng cũng đặt vấn đề về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống.
3. Phân tích nhân vật Đan Thiềm
- Hoàn cảnh bi thương: cung nữ bị giam hãm cả đời trong cung cấm, tuổi xuân phai tàn.
- Tấm lòng nhân hậu, tri âm:
+ Hiểu và thương xót nỗi đau của Vũ Như Tô.
+ Khích lệ ông đem tài năng cống hiến cho dân tộc.
- Vai trò: người thắp lửa cho khát vọng sáng tạo, nhưng cũng gián tiếp đưa Vũ Như Tô vào bi kịch cuối cùng.
4. Mối quan hệ giữa Vũ Như Tô – Đan Thiềm
- Đồng cảm về số phận: cùng là những con người tài sắc nhưng bị chèn ép.
- Đan Thiềm là tri âm, người hiểu và khích lệ Vũ Như Tô vượt lên hiện thực đen tối để mưu cầu cái đẹp, cái vĩnh hằng.
- Mối quan hệ này làm nổi bật xung đột trung tâm: khát vọng nghệ thuật cao cả nhưng xa rời đời sống, nhân dân → dẫn đến bi kịch.
5. Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của đoạn trích
- Tư tưởng nhân văn: trân trọng tài năng, khát vọng sáng tạo, khẳng định vai trò của tri âm.
- Nghệ thuật:
+ Hình thức kịch: đối thoại tự nhiên, giàu kịch tính.
+ Xây dựng nhân vật có nội tâm phức tạp, đa chiều.
+ Ngôn ngữ giàu chất thơ, chất triết lí.
* Kết bài:
- Khẳng định ý nghĩa đoạn trích: khắc họa bi kịch của nghệ sĩ tài hoa trước hiện thực nghiệt ngã; ngợi ca tài năng và khát vọng sáng tạo.
- Liên hệ: Tác phẩm đặt ra vấn đề muôn thuở về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống, gợi suy ngẫm cho người đọc hôm nay.
Bài văn tham khảo
Nguyễn Huy Tưởng là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học hiện thực Việt Nam hiện đại. Ông quan tâm sâu sắc đến lịch sử dân tộc và thân phận con người trong những bước ngoặt bi kịch của thời đại. Vở kịch Vũ Như Tô là một sáng tác xuất sắc của ông, tái hiện bi kịch của người nghệ sĩ tài hoa trong xã hội phong kiến suy tàn. Đoạn trích ở hồi I, lớp VII với cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm đã làm nổi bật bi kịch cá nhân, khát vọng nghệ thuật và mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc đời.
Bối cảnh câu chuyện diễn ra khi triều Lê đang trên đà suy tàn, vua Lê Tương Dực hôn ám, nhân dân lầm than, tài năng bị chèn ép. Vũ Như Tô – người thợ tài hoa – bị bắt về kinh, chuẩn bị chịu cực hình. Tại đây, ông gặp Đan Thiềm, một cung nữ mang trái tim nhân hậu. Cuộc đối thoại giữa họ mở ra bức tranh hiện thực về số phận bi kịch của những con người tài sắc trong xã hội ấy, đồng thời đặt ra vấn đề sâu sắc về khát vọng sáng tạo và giá trị của nghệ thuật.
Trước hết, nhân vật Vũ Như Tô hiện lên là người nghệ sĩ có tài, có tâm. Ông bẩm sinh có khiếu về kiến trúc, khát vọng xây dựng Cửu Trùng Đài – một công trình nghệ thuật vĩ đại để đất nước sánh với các cường quốc. Tuy nhiên, cuộc đời Vũ Như Tô là chuỗi dài đau khổ: bị triều đình khinh rẻ, bắt bớ, giam cầm; mất mát gia đình, chịu roi vọt và sự nhục nhã. Trong đoạn trích, Vũ Như Tô hiện ra với tâm trạng phức tạp: vừa uất ức, chán chường vì bất công, vừa được Đan Thiềm khơi dậy niềm tin vào khát vọng sáng tạo lớn lao. Qua đó, tác giả ca ngợi tài năng, khát vọng cống hiến của con người nhưng cũng dự báo bi kịch khi nghệ thuật xa rời đời sống.
Nhân vật Đan Thiềm là một cung nữ sống cả đời trong cung cấm, tuổi xuân phai tàn nhưng vẫn giữ tấm lòng nhân hậu. Bà thấu hiểu và thương xót nỗi đau của Vũ Như Tô, đồng thời khích lệ ông đem tài năng cống hiến cho dân tộc. Đan Thiềm trở thành tri âm, người thắp lửa cho khát vọng sáng tạo trong Vũ Như Tô, nhưng vô tình cũng đưa ông đến bi kịch khi Cửu Trùng Đài trở thành biểu tượng xa rời nhân dân.
Mối quan hệ giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm vì thế vừa là tình tri âm sâu sắc, vừa làm nổi bật xung đột trung tâm của vở kịch: nghệ thuật vĩ đại nhưng xa lạ với đời sống nhân dân sẽ dẫn đến bi kịch. Đoạn trích cũng thể hiện tài năng của Nguyễn Huy Tưởng trong việc xây dựng đối thoại kịch tính, khắc họa nội tâm nhân vật sâu sắc, ngôn ngữ giàu chất thơ và triết lí.
Tóm lại, đoạn trích Vũ Như Tô không chỉ ca ngợi tài năng và khát vọng sáng tạo mà còn đặt ra vấn đề muôn thuở về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời. Tác phẩm để lại cho người đọc hôm nay bài học về sự gắn kết giữa đam mê cá nhân với hạnh phúc của nhân dân, của đất nước.