Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích văn bản ngữ liệu “Một trận bão cuối năm” của Bùi Hiển.
Gợi ý:
- Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng
+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.
+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích văn bản ngữ liệu “Một trận bão cuối năm” của Bùi Hiển.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
* Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Bùi Hiển: cây bút văn xuôi hiện đại, thường viết về cuộc sống của những con người lao động nghèo khổ, giàu nghị lực và giàu tình cảm.
- Giới thiệu tác phẩm “Một trận bão cuối năm”: tái hiện bi kịch mất mát của ngư dân miền biển sau cơn bão dữ, đồng thời thể hiện những chiêm nghiệm nhân sinh sâu sắc về sự sống và cái chết.
- Dẫn dắt và nêu vấn đề: phân tích đoạn trích để làm rõ giá trị hiện thực và triết lí nhân sinh mà tác phẩm gửi gắm.
* Thân bài:
a. Khung cảnh và tình huống truyện
- Thời điểm: đêm giao thừa – ranh giới giữa năm cũ và năm mới, vốn là khoảnh khắc sum họp, vui mừng.
- Sự đối lập:
+ Nhà giàu thì tưng bừng đón năm mới.
+ Những người dân chài thì đau đớn, lo âu, ngóng đợi tin chồng con mất tích trong bão.
- Không khí bao trùm: tang thương, nỗi buồn chung gắn kết những người phụ nữ trong cảnh ngộ cùng cực.
b. Chi tiết kì ảo – sự trở về của ba chiếc thuyền ma
- Hình ảnh kì ảo: ba ngọn đèn xanh, ba con thuyền lặng lẽ tiến vào bờ.
- Cuộc đối thoại của bác Can Túc và bà con:
+ Giọng nói xa xôi, bí ẩn.
+ Nụ cười bí hiểm, tinh nghịch nhưng như an ủi, trấn an người ở lại.
- Cảnh tượng huyền ảo nhưng lại được miêu tả rất chân thực, khắc sâu trong tâm trí người dân, trở thành một kỉ niệm không thể quên.
c. Ý nghĩa và triết lí nhân sinh
- Về mặt hiện thực: phản ánh nỗi đau thương, mất mát của ngư dân sau thiên tai; đồng thời thể hiện niềm hi vọng mong manh của họ vào sự trở về của người thân.
- Về mặt nhân sinh:
+ Cái chết không phải là dấu chấm hết, mà như sự mở ra một hành trình khác, về “chốn vô cùng”.
+ Nụ cười và lời nhắn gửi của bác Can Túc như một sự khẳng định: có thể thân xác mất đi, nhưng linh hồn và tình cảm vẫn còn mãi với người thân.
+ Thể hiện cái nhìn nhân văn, nhẹ nhàng về sinh – tử; sự an ủi tinh thần to lớn đối với những người ở lại.
d. Nghệ thuật
- Miêu tả tâm trạng tập thể (những người dân chài cùng nỗi đau chung).
- Sử dụng yếu tố kì ảo xen lẫn hiện thực tạo sự ám ảnh, lung linh mà sâu sắc.
- Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giọng văn trầm buồn, thấm đẫm tình thương.
* Kết bài:
- Khẳng định giá trị của đoạn trích: không chỉ phản ánh hiện thực khắc nghiệt của đời sống ngư dân miền biển mà còn gửi gắm triết lí nhân sinh đầy nhân văn: sự sống và cái chết chỉ là hai chặng của một hành trình.
- Liên hệ: gợi cho mỗi người niềm cảm thông sâu sắc với những phận đời bất hạnh và thái độ sống trân trọng, yêu thương hơn với sự sống hiện tại.
Bài văn tham khảo
Trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, Bùi Hiển được biết đến là cây bút giàu trăn trở, thường hướng ngòi bút về những phận người nhỏ bé, đặc biệt là người dân chài miền biển. Ông không chỉ ghi lại những lát cắt hiện thực của cuộc sống mưu sinh đầy khắc nghiệt mà còn gợi mở những triết lí nhân sinh sâu xa về sự sống và cái chết. Trích đoạn “Một trận bão cuối năm” là minh chứng tiêu biểu, khi nhà văn tái hiện bi kịch mất mát của ngư dân sau cơn bão dữ, đồng thời làm nổi bật giá trị nhân văn trong cách nhìn nhận về cuộc đời.
Đoạn trích diễn ra vào đêm ba mươi Tết, thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Đáng lẽ đó phải là thời điểm sum họp, vui mừng, nhưng trong cảnh ngộ của những người dân chài, niềm vui bị thay thế bằng nỗi buồn đau, chờ đợi. Một bên, nhà giàu náo nhiệt đón giao thừa, tiếng pháo ầm ầm vang lên. Một bên, những người vợ, người mẹ có chồng con mất tích trong bão thì thẫn thờ, bi thương, “không muốn lìa nhau” bởi nỗi đau chung đã ràng buộc họ lại. Sự đối lập ấy càng làm rõ hiện thực chua xót: thiên tai và số phận nghiệt ngã luôn đè nặng lên đôi vai những con người nghèo khổ.
Giữa nỗi tuyệt vọng mênh mông, họ bất ngờ chứng kiến một cảnh tượng kì lạ: từ biển đêm đen kịt, ba đốm sáng xanh hiện lên rồi hóa thành ba con thuyền lặng lẽ tiến vào cửa lạch. Cảnh tượng ấy vừa huyền ảo vừa chân thực, khiến những người dân bàng hoàng mà khắc cốt ghi tâm. Đặc biệt, chi tiết đối thoại của bác Can Túc với vợ con và bà con trong làng gây xúc động mạnh mẽ. Bác hiện về với nụ cười lặng lẽ, bí ẩn, như mang theo một niềm an ủi: “Anh gửi lời chào bà con cả. Anh em ở xa ghé về thăm nhà một tí, giờ đi đây.” Nụ cười ấy, lời nói ấy không chỉ gieo vào lòng người ở lại sự ấm áp mà còn gợi ra một quan niệm nhân sinh: cái chết không phải là dấu chấm hết tuyệt đối, mà là sự trở về một cõi an yên nào đó.
Giá trị lớn nhất của đoạn trích không nằm ở chi tiết kì ảo kịch tính mà ở ý nghĩa nhân văn sâu xa. Người dân miền biển đã quá quen với mất mát, song niềm hi vọng mong manh về sự trở lại của người thân vẫn còn. Và chính hình ảnh bác Can Túc hiện về đã hóa giải phần nào nỗi đau ấy, để cái chết trở thành sự tiếp nối, để tình cảm và linh hồn người đã khuất còn sống mãi trong ký ức của cộng đồng. Qua đó, Bùi Hiển gửi gắm triết lí: sự sống – cái chết chỉ là hai bến bờ của một dòng chảy, điều quan trọng là tình thương, là sự gắn bó giữa con người với con người.
Về nghệ thuật, tác phẩm đặc sắc ở bút pháp kết hợp giữa hiện thực và kì ảo. Hiện thực hiện lên trong nỗi đau chung của người dân chài sau bão, trong sự đối lập giữa nhà giàu và nhà nghèo. Yếu tố kì ảo lại đem đến dư ba ám ảnh, lung linh, khiến câu chuyện vượt thoát khỏi sự tăm tối để hướng tới ánh sáng nhân văn. Giọng văn trầm buồn, ngôn ngữ giàu hình ảnh đã khắc họa được chiều sâu tâm trạng và gợi suy tư cho người đọc.
Có thể nói, trích đoạn “Một trận bão cuối năm” không chỉ phản ánh hiện thực khắc nghiệt của đời sống ngư dân miền biển mà còn nâng đỡ tâm hồn người đọc bằng triết lí nhân sinh nhân văn: sự sống và cái chết vốn không chia lìa tuyệt đối, tình thương và kỉ niệm mới là thứ bất tử. Tác phẩm của Bùi Hiển vì thế không chỉ là tiếng khóc thương cho những kiếp người vất vả mà còn là lời nhắc nhở chúng ta phải trân trọng sự sống, biết sẻ chia và yêu thương hơn trong hiện tại.